Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 222/2024/HS-ST

Ngày: 13/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Nam Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hạnh

Bà Nguyễn Thị Thụy

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Huy- Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình,thành phố Hà Nội.

- Đại diện VKSND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Vũ Ngọc K - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 221/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 468/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Minh N, sinh năm 1968.

Nơi thường trú: B1 khu tập thể lắp ghép, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; nơi ở: số D ngách G T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Đỗ Thị H1 (đã chết); có chồng là: Lê Quyết T (đã chết) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại Bản án số 213/2019/HS-ST, ngày 25/11/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

2. Bùi Minh T1, sinh năm 1979.

Nơi thường trú: Số F H, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc C và bà Trần Thị B (đã chết); có vợ là: Nguyễn Thị H2 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:

  • Ngày 12/10/2001, Ủy ban nhân dân thành phố H đưa vào cở sở giáo dục tại Trường G 12 tháng.
  • Ngày 11/8/2022, Công an quận H, Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua quan hệ xã hội, Bùi Minh T1 quen và biết Trần Minh N có bán ma túy loại Heroine, nên T1 đã nhiều lần đến nhà của N ở số D ngách G T, P, B, Hà Nội mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Sáng ngày 28/7/2024, N đi từ nhà số D ngách G T đến khu vực cổng chợ L để mua ma túy về bán lại kiếm lời. Tại đây, N gặp và mua của một đối tượng không quen biết (N không biết nhân thân, lai lịch) 2.000.000 đồng ma túy, loại Heroine. Sau khi mua được ma túy, N mang về nhà rồi chia nhỏ thành 30 gói, bọc bên ngoài bằng nilon các màu khác nhau để bán với giá 200.000 đồng/gói, số ma túy còn lại N để trong 01 túi nilon, rồi cho tất cả vào lọ nhựa hình tròn, cất vào tủ quần áo ở dưới tầng 1. Đến khoảng 12h45', ngày 30/7/2024, T1 sử dụng số điện thoại 0393.027.xxx nhắn tin cho N qua số điện thoại 0936.380.xxx hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroine, N đồng ý và hẹn T1 đến nhà ở số D ngách G T để giao dịch. Sau đó, T1 một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Jupiter màu đen, biển kiểm soát: 29Y2-7885 đến trước cửa nhà N. Tại đây, T1 đưa cho N số tiền 200.000 đồng, đồng thời N đưa cho T1 01 gói ma túy Heroine bọc bên ngoài bằng nilon màu xanh. Sau khi mua được ma túy, T1 cất gói ma túy Heroine vào trong túi áo ngực bên trái rồi đi tìm nơi để sử dụng. Đến khoảng 13h00' cùng ngày, khi T1 đi đến khu vực cửa khẩu chợ L, thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện T1 đang cất giấu trái phép gói chất bột màu trắng trên người, T1 khai nhận là ma túy loại Heroine mua được của N để sử dụng nên lực lượng công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong gói vật chứng nghi ma túy để xác minh làm rõ.

Sau khi bán mua túy cho T1, N đang đứng trước cửa nhà số D ngách G T thì lực lượng Công an dẫn giải T1 đến. T1 xác định N là đối tượng đã bán ma túy cho T1 nên lực lượng công an đã tiến hành kiểm tra đối với N. N khai nhận gói chất bột màu trắng thu giữ của T1 là do N bán và đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số ma túy chưa kịp bán.

Ngoài ra. khoảng trưa ngày 29/7/2024, cũng tại trước cửa nhà của N số D ngách G T, T1 mua của N 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng, số ma túy này T1 đã sử dụng hết.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ gồm:

  • Thu giữ của Bùi Minh T1:
    • 01 gói nilon màu xanh chứa chất bột màu trắng.
    • 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, sim 1: 0393027696; sim 2: 0934091689 (đã qua sử dụng).
    • Số tiền 335.000 đồng.
    • 01 xe máy Jupiter màu đen, biển kiểm soát: 29Y2-7885 (đã qua sử dụng).
  • Thu giữ của Trần Minh N:
    • 01 lọ nhựa hình tròn bên trong có:
      • 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng.
      • 01 túi nilon màu trắng bên trong có 15 gói giấy bạc màu vàng; 02 gói giấy bạc màu trắng; 03 gói nilon màu xanh tất cả bên trong đều chứa chất bột màu trắng.
    • 01 túi đeo chéo bên trong có:
      • Số tiền 654.000 đồng.
      • 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, sim: 0936661815 (đã qua sử dụng).
      • 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, sim: 0936380822 (đã qua sử dụng).

    Tại Kết luận giám định số 5655/KLGĐ-PC09 ngày 08/8/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận:

    • Vật chứng thu giữ của Bùi Minh T1: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,194 gam.
    • Vật chứng thu giữ của Trần Minh N:
      • Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,346 gam.
      • Chất bột màu trắng bên trong 15 gói giấy bạc màu vàng, 02 gói giấy bạc màu trắng, 03 gói nilon màu xanh, đều là ma túy loại Heroine, khối lượng: 1,764 gam.

    Tại Cơ quan điều tra, Trần Minh N và Bùi Minh T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. N và T1 còn khai: Từ cuối tháng 6/2024 đến trước khi bị bắt, T1 nhiều lần đã mua ma túy loại Heroine của N, nhưng không nhớ các lần cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ.

    Tại Cơ quan điều tra N còn khai nhận: Ngoài bán ma túy Heroine cho T1, N đã bán ma túy Heroine cho nhiều người khác nhau, trong đó có Tú A số điện thoại 0968.182.xxx; Đại Tú số điện thoại 0346.407.xxx; Anh số điện thoại 0848.280.xxx. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xác định: Chủ thuê bao số 0968.182.106 là Trần Văn T2 (sinh năm 1986; nơi thường trú: Phố Bái N1, N, Ninh Bình); số 0346.407.600 là Trần Văn H3 (sinh năm 1987; nơi thường trú: Giao Thanh, G, Nam Định) và số 0848.280.099 của Vũ Thị T3 (sinh năm 1972; nơi thường trú: N, T, Thái Bình). Tại Cơ quan điều tra, anh T2, anh H3 và chị T3 khẳng định không đăng ký và không sử dụng các số điện thoại trên và không biết ai tên Trần Minh N nên không có căn cứ để xác định như lời khai của N.

    Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, Trần Minh N khai mua của đối tượng đàn ông không quen biết tại khu vực cổng chợ L. Cơ quan điều tra đã dẫn giải Nguyệt đến vị trí nêu trên nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho N. Ngoài lời khai trên của Nguyệt, không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên không có cơ sở để xác minh làm rõ.

    Chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn số thuê bao 0393027696 đã thu giữ của T1 và 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng gắn số thuê bao 0936.661.815 và Iphone 6 màu vàng gắn số thuê bao 0936.380.822 thu giữ của N, theo khai nhận và kết quả tra cứu lịch sử liên lạc, đều thể hiện các đối tượng sử dụng làm phương tiện liên lạc để mua bán ma túy. Số tiền 335.000 đồng đã thu giữ của T1, T1 khai nhận do lao động có; số tiền 654.000 thu giữ của N do bán ma túy mà có.

    Đối với 01 xe máy Jupiter màu đen biển kiểm soát: 29Y2-7885: Tại Cơ quan điều tra T1 khai mượn chiếc xe máy trên của bố là ông Bùi Ngọc C (sinh năm 1950; nơi thường trú: Số B Hồ N, P, H, Hà Nội) để làm phương tiện đi lại. Ông C trình bày mua chiếc xe máy trên và cho T1 mượn để đi lại, không biết T1 sử dụng để đi mua ma túy. Hiện giấy tờ mua bán và đăng ký xe ông C đã làm mất. Quá trình điều tra xác định đứng tên chủ đăng ký xe mô tô nêu trên là Ngô Đức T4 (sinh năm 1977; nơi thường trú: 44 đường Y, T, Hà Nội). Anh T4 trình bày mua và đăng ký chiếc xe trên, đến năm 2015 anh bán lại chiếc xe máy trên tại Chợ xe máy. Quá trình giám định xác định số khung, số máy là nguyên thủy và tra cứu không nằm trong danh sách vật chứng. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe máy trên.

    Với nội dung trên bản cáo trạng số 222/CT-VKSBĐ ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố: bị cáo Trần Minh Nguyệt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Bùi Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Minh N; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Minh T1; Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Bùi Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị mức hình phạt đối với: bị cáo N từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, bị cáo T1 từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù.

    * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • Đối với tài sản thu giữ của Bùi Minh T1:
      • + Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,194 gam ma túy loại Heroine.
      • + Tịch thu sung công Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh, đã qua sử dụng là phương tiện dùng để phạm tội.
      • + Giao Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình quản lý 01 xe máy Jupiter màu đen BKS: 29Y2-7885 trong thời hạn 06 tháng, nếu không có người nhận thì tịch thu, sung công.
      • + Trả lại cho bị cáo T1 số tiền 335.000 đồng không liên quan hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để thi hành án.
    • Đối với tài sản thu giữ của Trần Minh N:
      • + Tịch thu, tiêu hủy 01 lọ nhựa hình tròn; 01 túi đeo chéo đều đã qua sử dụng, không có giá trị và 01 bao niêm phong bên trong có 2,11 gam ma túy loại Heroine.
      • + Tịch thu sung công Nhà nước: Số tiền 654.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, sim: 0936661815 (Đều đã qua sử dụng); 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng, sim: 0936380822 (Đều đã qua sử dụng) là phương tiện dùng để phạm tội.
      • + Miễn phạt tiền các bị cáo.

    Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

    Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung truy tố của cáo trạng và không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

    NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

    Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

    [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, thành phố Hà Nội, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

    [2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 30/7/2024, tại trước của nhà số D ngách G T, P, B, Hà Nội, bị cáo Trần Minh N đã có hành vi bán trái phép cho bị cáo Bùi Minh T1 0,194 gam ma túy loại Heroine, với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được số ma túy nêu trên của bị cáo N, bị cáo T1 cất giấu trên người đi tìm nơi để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo T1 đi đến khu vực cửa khẩu chợ L thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

    Ngoài ra, vào ngày 29/7/2024, tại trước của nhà số D ngách G T, P, B, Hà Nội, bị cáo N đã bán cho bị cáo T1 01 gói ma túy loại Heroine với giá 200.000 đồng.

    Khám xét nơi ở của bị cáo Trần Minh N, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ được 2,110 gam Heroin, mục đích bị cáo N cất giấu số ma tuý này để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.

    Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Minh N có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Minh T1 có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

    [3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử nhận thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Minh N là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội Bùi Minh T1 là nghiêm trọng; các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy là chất gây nghiện được nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm mọi hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vì hám lời bị cáo N vẫn cố ý mua bán trái phép chất ma túy, vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện của cá nhân, bị cáo T1 vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma tuý. Mặt khác hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm và các tệ nạn xã hội khác vì vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

    [4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, thấy rằng:

    Bị cáo Trần Minh N và Bùi Minh T1 khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng các bị cáo đều là những người có nhân thân xấu: tại Bản án số 213/2019/HS-ST ngày 25/11/2019, bị cáo Trần Minh N bị Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 26 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 12/10/2001, bị cáo Bùi Minh T1 bị Ủy ban nhân dân thành phố H đưa vào cở sở giáo dục tại Trường G 12 tháng, ngày 11/8/2022, bị cáo Bùi Minh T1 bị Công an quận H, Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

    Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở thành người công dân có ích cho xã hội.

    Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như vậy mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

    [5] Xử lý vật chứng:

    Toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong bao niêm phong, hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành vì vậy cần áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy này.

    Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia màu xanh gắn số thuê bao 0393027696 đã thu giữ của bị cáo T1 và 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu hồng gắn số thuê bao 0936.661.815 và Iphone 6 màu vàng gắn số thuê bao 0936.380.822 thu giữ của bị cáo N là điện thoại các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma tuý, vì vậy căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước ba chiếc điện thoại này.

    Số tiền 654.000 đồng thu giữ của bị cáo N do bị cáo bán ma tuý trái phép mà có vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền này.

    Một chiếc xe máy nhãn hiệu Jupiter, màu đen, biển kiểm soát: 29Y2-7885 đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định xe máy không có trong cơ sở dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng; giám định số khung, số máy là nguyên thủy. Cơ quan điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu hợp pháp. Hiện chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe trên vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý chiếc xe máy này như sau: Hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu là ngày 12/12/2024, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự, hết thời hạn trên, chiếc xe máy này sẽ được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

    Số tiền 335.000 đồng thu giữ của bị cáo T1 là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo vì vậy căn cứ khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại số tiền này cho bị cáo T1.

    Đối với 01 túi đeo chéo thu giữ của bị cáo N, đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng vì vậy căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu huỷ chiếc túi này.

    Toàn bộ vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

    [6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự

    [7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Vì các lẽ trên;

    QUYẾT ĐỊNH:

    Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Minh N;

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Minh T1;

    Căn cứ khoản 1, điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 228 Bộ luật Dân sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;

    Bị cáo Bùi Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Minh N 07 (Bẩy ) năm 06 (S ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/7/2024.

    Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh T1 20 (Hai mươi) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/7/2024.

    - Về xử lý vật chứng:

    • + Tịch thu tiêu huỷ: 01(Một) bao niêm phong bên trong có 0,194 gam heroin,đã qua giám định bên ngoài có chữ ký giám định viên và bị cáo Bùi Minh T1; 01(Một) lọ nhựa hình tròn mầu trắng bên trong có 2,110 gam heroin, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký giám định viên và bị cáo Bùi Minh N2; 01 túi đeo chéo thu giữ của bị cáo N2.
    • + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
      • + 01(Một) điện thoại nhãn hiệu Nokia mầu xanh đã cũ, số sim 0393027696,số imei : 358452980161971 không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của bị cáo Bùi Minh T1
      • + 01(Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 7Plus mầu hồng đã cũ, số sim 0936661815, số imei : 359171076429261 không kiểm tra chất lượng bên trong ; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 mầu vàng đã cũ, số sim 09363808225,số imei : 359230061493268 không kiểm tra chất lượng bên trong, và số tiền 654.000 đồng thu giữ của bị cáo Bùi Minh N2.
    • + Trả lại cho bị cáo Bùi Minh T1 số tiền: 335.000 đồng.
    • + Một chiếc xe máy nhãn hiện Jupiter, màu đen, biển kiểm soát: 29 Y2-7885 đã qua sử dụng, xử lý chiếc xe máy này như sau: Hết thời hạn 12 tháng kể từ ngày đăng tin tìm chủ sở hữu là ngày 12/12/2024, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp có yêu cầu thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn trên, chiếc xe máy này sẽ được tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

    Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 51 ngày 10/12/2024 giữa Công an quận B với Chi Cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội và Giấy nộp tiền vào tài khoản số:117387 ngày 09/12/2024 Ngân hàng TMCP C1.

    Bị cáo Trần Minh N, Bùi Minh T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    - TAND TP Hà Nội;

    - VKSND TP Hà Nội;

    - VKSND quận Ba Đình;

    - Công an quận Ba Đình;

    - Chi cục THADS quận Ba Đình;

    - Trại tạm giam số I – Công an TP Hà Nội.

    - Bị cáo;

    - Lưu hồ sơ.

    T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

    THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

    Hoàng Nam Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 222/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 222/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Minh N 07 (Bẩy ) năm 06 (S ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/7/2024. Bị cáo Bùi Minh T1 20 (Hai mươi) tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 30/7/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger