|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 222/2024/HS-PT Ngày: 29/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện
- - Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hà
- Bà Ngô Thị Thanh Hảo
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 274/TLPT-HS ngày 25/10/2024 đối với các bị cáo Dương Minh T1, Dương Thanh T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
*Các bị cáo kháng cáo:
- Họ và tên: Dương Minh T1, sinh năm 1974
- Họ và tên: Dương Thanh T2, sinh năm 1965
Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng viên đã bị khai trừ ra khỏi Đảng từ ngày 02/02/2024 (Quyết định số 2347- QĐ/UBKTHU ngày 02/02/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy H); con ông Dương Tấn T3, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949; có vợ: Ngô Thị K, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001.
Bị cáo án tiền, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
Tên gọi khác: Dương Văn C.
Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; Đảng viên đã bị khai trừ ra khỏi Đảng từ ngày 04/7/2024 (Quyết định số 2695- QĐ/UBKTHU ngày 04/7/2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy H); con ông Dương Thanh Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); có vợ Ngọ Thị C1, sinh năm 1970 và có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990.
Bị cáo án tiền, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)
*Trong vụ án còn có các bị cáo khác, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án hình sự sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 13/10/2022, Phạm Văn V, sinh năm 1981, ở tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố về tội Cưỡng đoạt tài sản và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 170 và Điều 249 Bộ luật Hình sự. Khoảng đầu tháng 7/2023, Phạm Đình T4 là bố đẻ của Phạm Văn V đến Ủy ban nhân dân thị trấn T gặp Dương Duy N khi đó đang là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H để hỏi về việc cấp tặng giấy khen cho Phạm Văn V vì có nhiều đóng góp trong công tác thiện nguyện, cũng như hỗ trợ Ủy ban nhân dân thị trấn T xây dựng công trình nông thôn mới các năm 2020, 2021. Sau khi tham khảo ý kiến của cán bộ chuyên môn, biết V không đủ điều kiện để Ủy ban nhân dân thị trấn T5 tặng Giấy khen, N đã nói lại cho T4 biết và giải thích điều kiện được tặng Giấy khen thì phải có hoạt động nhân hiến, xây dựng nông thôn mới, ủng hộ phong trào phòng chống covid 19. Sau khi nghe giải thích, T4 nhờ N tìm hiểu, liên hệ với các xã có khó khăn để T4 tự nguyện đóng góp một khoản tiền cho địa phương đó xây dựng nông thôn mới mục đích xin cấp Giấy khen cho V vào năm 2020- 2021 (là thời điểm V chưa bị bắt giữ) để nộp cho Toà án tỉnh Bắc Giang làm tình tiết giảm nhẹ khi V bị xét xử. N đồng ý. Sau đó khoảng một tuần, N gọi điện cho cháu là Dương Minh T1 (khi đó đang là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đến Ủy ban nhân dân thị trấn T, tại đây N đặt vấn đề về việc T4 xin Giấy khen cho con trai để được hưởng tình tiết giảm nhẹ khi xét xử và nói T4 sẽ đóng góp tiền ủng hộ vào quỹ xây dựng nông thôn mới của xã. T1 trả lời việc này T1 không tự quyết định được mà phải xin ý kiến Thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận tổ quốc xã. Sau đó, T1 trao đổi với ông Nguyễn Văn T6- Bí thư Đảng ủy và ông Hoàng Anh T7 - Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã H, ông T6 và ông T7 bảo T1 mời N xuống và có ý kiến trực tiếp với Thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận tổ quốc xã H. Chiều ngày 18/7/2023, N thông báo cho T4 biết sẽ đến Ủy ban nhân dân xã H nên T4 đã đưa cho N số tiền 15.000.000 đồng để ủng hộ cho xã. N cầm 15.000.000 đồng trực tiếp đến Ủy ban nhân dân xã H. Tại đây, T1 mời Thường trực Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận tổ quốc xã gồm: ông Nguyễn Văn T6 - Bí thư Đảng ủy, ông Hoàng Anh T7 - Phó Bí thư thường trực Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân; bà Dương Thị N1 - Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; ông Đỗ Hữu L1- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; ông Hoàng Xuân T8 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân và Dương Thanh T2 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận T cùng tham gia hội ý. N trình bày có người quen tên là Phạm Văn V đang sắp bị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử, để trình Tòa xét giảm nhẹ hình phạt thì có Giấy khen nên đề nghị Ủy ban nhân dân xã tạo điều kiện tặng Giấy khen cho V vào năm 2021 để được hưởng tình tiết giảm nhẹ, đồng thời Nắm đề xuất đóng góp vào quỹ xây dựng nông thôn mới của xã số tiền 15.000.000 đồng.
Sau khi nghe N trình bày thì mọi người có mặt tại đó đều đồng ý, Dương Minh T1 giao cho Dương Thanh T2 tiếp nhận số tiền 15.000.000 đồng và phối hợp với bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1986, trú tại thôn G, xã T, huyện H (là công chức Văn phòng thống kê của UBND xã) lấy số quyết định Giấy khen, đồng thời T2 trực tiếp chỉ đạo bà N2 cung cấp cho T2 để làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định giảm một phần mức hình phạt của tội “Cưỡng đoạt tài sản” cho V từ mức án 06 tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Sau đó, N cung cấp cho T2 thông tin của Phạm Văn V, T2 đến gặp bà N2 xin cấp quyết định, bà Ngọc T9 trên hệ thống dữ liệu thủ tục hành chính của xã H thời điểm năm 2021 và lấy số Quyết định là 1066/QĐ-UBND ngày 27/12/2021. Sau khi có đầy đủ thông tin cần thiết, T2 đến cửa hàng photocopy của bà Dương Thị N3, sinh năm 1988 ở thôn H, xã H, huyện H (đối diện UBND xã H) thuê làm giấy khen với nội dung “Chủ tịch UBND xã H tặng Giấy khen cho Phạm Văn V - Phó giám đốc Công ty TNHH D - Bắc Giang: Đã có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng nông thôn mới năm 2021” theo Quyết định số 1066/QĐ-UBND ngày 27/12/2021. T2 mang giấy khen đưa cho Dương Minh T1 ký. Sau khi T1 ký xong, thì T2 mang đi đóng dấu của Ủy ban nhân dân xã H vào giấy khen rồi trực tiếp đưa cho N3. Sau khi nhận được Giấy khen, N3 đưa lại cho T4. Thời điểm này Phạm Văn V chưa bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hoà xét xử sơ thẩm, nhưng T4 không giao nộp giấy khen của Ủy ban nhân dân xã H cho Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà mà giữ lại để giao nộp khi vụ án được xét xử phúc thẩm.
Ngày 11/8/2023, Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đã xét xử sơ thẩm và tuyên phạt Phạm Văn V mức án 06 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự và 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, buộc Phạm Văn V phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 năm 08 tháng tù. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quá trình Tòa án chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Phạm Đình T4 đưa cho con trai là Phạm Đức T10 Giấy khen của xã H nêu trên cùng với Giấy khen của Chủ tịch UBND xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang cấp cho Phạm Văn V vào ngày 15/10/2021 để T10 đi sao y bản chính và nộp cho Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang. Ngày 02/11/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án Phạm Văn V đã sử dụng hai giấy khen trên để làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định giảm một phần mức hình phạt của tội “Cưỡng đoạt tài sản” cho V từ mức án 06 tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngày 17/11/2023, Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành nguồn tin về việc Phạm Văn V được Chủ tịch UBND xã H tặng Giấy khen có dấu hiệu giả mạo. Cùng ngày 17/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 17/11/2023, Phạm Đình T4 giao nộp: 01 Giấy khen đề ngày 15/10/2021 do ông Nguyễn Khắc P- Chủ tịch UBND xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang tặng cho “ Ông Phạm Văn V, địa chỉ: số C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bắc Giang: Đã có thành tích trong hỗ trợ cơ sở vật chất cho trường học, tổ giác đối tượng phạm tội trên địa bàn xã và hỗ trợ xoá nhà tạm cho nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Hà Giang”; 01 (một) Giấy khen số Quyết định số 1066/QĐ-UBND đề ngày 27/12/2021 do Dương Minh T1- Chủ tịch UBND xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang tặng cho “Ông Phạm Văn V- Phó giám đốc Công ty TNHH D - Bắc Giang: Đã có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng nông thôn mới xã H năm 2021.
Bà Nguyễn Thị N2 giao nộp: 01 Quyết định số 1066/QĐ-LTCH ngày 25/12/2021 của Ủy ban nhân dân xã H là quyết định về việc phê duyệt danh sách các trường hợp bắt buộc áp dụng biện pháp cách ly y tế tại nhà, nơi lưu trú trên địa bàn xã.
Ngày 17/11/2023, Dương Thanh T2 đã giao nộp số tiền 15.000.000 đồng cho Cơ quan Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H.
Ngày 17/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trưng cầu mẫu chữ ký của Dương Minh T1 và hình dấu trên của UBND xã H trên Giấy khen đã cấp cho Phạm Văn V.
Tại Bản kết luận giám định số 2258/KL-KTHS, ngày 20/11/2023, Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký mang tên Dương Minh T1 dưới mục “Chủ tịch” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký của Dương Minh T1 trên tài liệu mẫu (ký hiệu M1) là do cùng một người ký ra. Hình dấu tròn mang tên UBND xã H, H, Bắc Giang so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu (ký hiệu M2) là do cùng một con dấu đóng ra.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định trong năm 2021, Phạm Văn V không có hoạt động hỗ trợ, ủng hộ nào đối với xã H; Ủy ban nhân dân xã H không có hồ sơ tặng Giấy khen cho Phạm Văn V; Quyết định số 1066 trong số theo dõi là quyết định về việc phê duyệt danh sách các trường hợp bắt buộc áp dụng biện pháp cách ly y tế tại nhà, nơi lưu trú trên địa bàn xã; ngày ghi trong quyết định là 25/12/2021, tuy nhiên trên phần mềm quản lý dữ liệu thủ tục hành chính xã H thể hiện văn bản được ban hành ngày 27/12/2021.
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Sở Nội vụ tỉnh B và Phòng Nội vụ huyện H xác định: Việc Chủ tịch UBND xã H tặng Giấy khen cho Phạm Văn V là đối tượng đang là tạm giam, điều tra do có hành vi phạm tội là trái quy định, vi phạm khoản 5, Điều 12 Thông tư số 12/2019/TT-BNV ngày 04/11/2019 của Bộ N4; việc lấy thành tích trong ủng hộ, hỗ trợ xã H vào ngày 18/7/2023 của Phạm Văn V để ra quyết định khen thưởng vào thời điểm tháng 12/2021 là trái các quy định của Pháp luật về thi đua, khen thưởng, vi phạm khoản 3, Điều 40 Nghị định 91/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.
Ngày 15/12/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H đã ban hành Quyết định số 187/QĐ-UBND, về việc thu hồi giấy khen đã cấp cho Phạm Văn V, do việc cấp giấy khen không đảm bảo theo quy định khen thưởng.
Quá trình điều tra, truy tố các Bị cáo Dương Minh T1, Dương Thanh T2, Dương Duy N, Phạm Đình T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đối với Phạm Đức T10 là người trực tiếp nộp giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H; Giấy khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, tuy nhiên không có căn cứ xác định T10 biết các Giấy khen trên là giả. Do vậy không có đủ căn cứ xử lý đối với T10 trong vụ án này.
Đối với Bản án hình sự phúc thẩm số 177/2023/HS-PT ngày 02/11/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang, ngày 02/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội hủy Bản án hình sự phúc thẩm, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm đối với Phạm Văn V.
Đối với nội dung tố giác liên quan đến việc tặng nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Minh T1; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s,v,x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Thanh T2 là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Dương Minh T1 thay đổi nội dung kháng cáo, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo Dương Thanh T2 thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Bị cáo Dương Minh T1 trình bày: Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự bào chữa cho hành vi phạm tội, cho rằng kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không mời và đã từ chối người bào chữa. Về diễn biến sự việc, hành vi bị cáo thực hiện, tội danh, điều luật áp dụng bản án sơ thẩm đã nêu và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù giam là nặng bởi việc cấp giấy khen cho Phạm Văn V là có ý kiến đồng ý của cả tập thể, bị cáo không có mục đích vụ lợi, bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng việc ra quyết định thu hồi giấy khen để làm căn cứ, lý do xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo là không phù hợp.
Bị cáo Dương Thanh T2 trình bày: Tại cấp phúc thẩm bị cáo tự bào chữa cho hành vi phạm tội, cho rằng kháng cáo của bị cáo nên bị cáo không mời và đã từ chối người bào chữa. Về diễn biến sự việc, hành vi bị cáo thực hiện, tội danh, điều luật áp dụng bản án sơ thẩm đã nêu và xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù giam là nặng bởi bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội do nhận thức hiểu biết là có sự đồng ý của cả tập thể và chỉ đạo của Chủ tịch, bị cáo là con liệt sỹ, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp giấy tờ về việc bị cáo được công nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Dương Minh T1; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Dương Thanh T2, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm:
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 359; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Minh T1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 359; điểm s,v,x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Dương Thanh T2 01 (một) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Đối với hình phạt bổ sung, cấm tuyên: Cấm bị cáo T1 đảm nhiệm chức vụ quản lý trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Cấm bị cáo T2 đảm nhiệm chức vụ quản lý cấp xã trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- - Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn theo quy định tại Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Theo các giấy tờ tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm có cơ sở kết luận: Do muốn có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Phạm Văn V tại cấp xét xử phúc thẩm nên đầu tháng 7 năm 2023, Phạm Đình T4 đã nhờ Dương Duy N mang số tiền 15.000.000đồng đến ủng hộ phong trào xây dựng nông thôn mới của Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang để xin được tặng Giấy khen thời điểm năm 2020, 2021 cho V. Ngày 18/7/2023, Dương Duy N đã trực tiếp mang số tiền 15.000.000 đồng đến Ủy ban nhân dân xã H, tại đây Dương Minh T1 - khi đó là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H biết việc tặng Giấy khen cho V là không đúng quy định nhưng vẫn chỉ đạo Dương Thanh T2 - khi đó là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận tổ quốc xã H tiếp nhận 15.000.000 đồng và làm Giấy khen cho Phạm Văn V vào thời điểm năm 2021 để T1 ký xác nhận vào Giấy khen.
Vì tiếp nhận số tiền 15.000.000 đồng mà gia đình Phạm Văn V ủng hộ, các bị cáo đã lấy lùi thời gian tặng giấy khen so với thời gian mà gia đình Phạm Văn V đưa tiền ủng hộ (năm 2023), làm giấy khen cho Phạm Văn V thời điểm năm 2021 khi năm 2021 V không có hoạt động ủng hộ nào là không đúng thực tế. Việc làm sai lệch nội dung Giấy khen (tức là không có sự việc ủng hộ năm 2021 nhưng lại ghi nhận và tặng giấy khen vào năm 2021) là hành vi làm giả về nội dung của giấy tờ của bị cáo T1, bị cáo T2 đã xâm phạm vào hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức.
Bị cáo T2 là Chủ tịch mặt trận tổ quốc xã H, bị cáo T1 là Chủ tịch UBND xã H. Quan hệ giữa Mặt trận tổ quốc và Nhà nước là quan hệ phối hợp, không phải là quan hệ cấp trên, cấp dưới nên việc bị cáo T2 cho rằng bị cáo thực hiện do cấp trên giao, là mệnh lệnh hành chính nên phải làm là không có căn cứ. Tại khoản 5 Điều 9 Luật cán bộ, công chức quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức là “Chấp hành quyết định của cấp trên. Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định; trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định. Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình”. Bị cáo T2 cho rằng việc làm trên là không đúng quy định pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện mà không có ý kiến, không báo cáo, phản hồi gì.
Hành vi của các bị cáo Dương Minh T1, Dương Thanh T2 đủ yếu tố cấu thành tội “Giả mạo trong công tác” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 359 Bộ luật hình sự. Bản án hình sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xét xử các bị cáo Dương Minh T1, Dương Thanh T2 về tội “Giả mạo trong công tác” theo khoản 1 Điều 359 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Trong vụ án này, bị cáo T1 giữ vai trò chính là người trực tiếp ký giấy khen không đúng quy định, bị cáo T2 là người giúp bị cáo T1 đi làm giấy khen để trình bị cáo T1 ký. Giấy khen do bị cáo T2 đi làm và do bị cáo T1 trực tiếp ký là biểu hiện hành vi vi phạm pháp luật của các bị cáo, hậu quả của việc này là dẫn đến Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng làm tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho Phạm Văn V. Vì vậy, việc bị cáo T1 trình bày việc cấp giấy khen cho Phạm Văn V là có ý kiến đồng ý của cả tập thể, bị cáo không có mục đích vụ lợi, bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng việc ra quyết định thu hồi giấy khen để làm căn cứ, lý do xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo là không phù hợp.
Đối với nội dung tố giác liên quan đến việc tặng nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Minh T1; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s,v,x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Thanh T2 là có căn cứ.
Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo Dương Minh T1 cung cấp giấy tờ về việc bố đẻ bị cáo là ông Dương Tấn T3 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và gia đình ông nội bị cáo (gia đình ông Dương Văn Đ1) được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì; bố vợ bị cáo là ông Ngô Đức K1 được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì. Bị cáo Dương Thanh T2 cung cấp giấy tờ về việc năm 2015 bị cáo đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở, giấy tờ về việc bị cáo tự nguyện nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo tại cấp phúc thẩm.
Xét thấy: Mặc dù các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; tại cấp phúc thẩm các bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới nhưng các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tổ chức, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên căn cứ tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, vai trò các bị cáo thấy cần phải áp dụng hình phạt tù giam với mức hình phạt như Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo là phù hợp. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo T1, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo T2 như đề nghị của Viện kiểm sát.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm tuyên cấm các bị cáo đảm nhiệm chức vụ quản lý trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù nhưng không tuyên cụ thể cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý gì là chưa đầy đủ, cần rút kinh nghiệm.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Minh T1, bị cáo Dương Thanh T2, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2024/HS-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 359; điểm s, điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Minh T1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Cấm bị cáo Dương Minh T1 đảm nhiệm chức vụ quản lý hành chính cấp xã trong thời hạn 02 (hai) năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 359; điểm s,v,x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Dương Thanh T2 01 (một) năm tù về tội “Giả mạo trong công tác”, thời hạn tù tính ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Cấm bị cáo Dương Thanh T2 đảm nhiệm chức vụ quản lý hành chính cấp xã trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Xác nhận bị cáo Dương Thanh T2 đã nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo biên lai thu tiền số 0001973 ngày 19/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Mọi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Luyện |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Nhiên |
Bản án số 222/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về giả mạo trong công tác
- Số bản án: 222/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giả mạo trong công tác
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T, T PHẠM TỘI GIẢ MẠO CÔNG TÁC
