|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2210/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31-5-2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tâm
2. Bà Phan Thị Bé
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên
toà: Bà Trần Võ Hồng Duyên – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 2028/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số... /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số A N, Tổ I, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thọ T1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số A Đường A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 28/8/2023, Bản tự khai và lời khai trong quá trình hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị Bé T trình bày:
Bà và ông T1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2015, ngày 17/6/2015. Ngay sau khi về chung sống chung thì cuộc sống chung của bà và ông T1 phát sinh nhiều mâu
thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm sống, ông T1 không lo làm ăn mà ham chơi đá gà, bài bạc, không có trách nhiệm với gia đình. Bà và ông T1 không còn sống chung với nhau từ tháng 11/2021 đến nay. Trong thời gian không sống chung, ông T1 cũng không quan tâm gì đến vợ con, không cấp dưỡng nuôi con. Nay bà xác định bà không còn tình cảm với ông T1 nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Thọ T1.
- Về con chung: Bà và ông T1 có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Bảo N và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Bà T tự khai không có.
Bị đơn ông Nguyễn Thọ T1 trình bày: Ông T1 xác nhận quá trình chung sống, kết hôn đúng như bà T trình bày, vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng không nhiều như bà T trình bày. Ông không đồng ý ly hôn vì hiện nay ông đang bị bệnh suy thận, sức khỏe yếu và hiện nay con chung còn nhỏ nên ông muốn vợ chồng hàn gắn để cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy con chung.
- Về con chung: Ông T1 xác nhận có 01 người con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015. Trường hợp, bà T vẫn yêu cầu ly hôn với ông thì ông đồng ý giao con cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác nhận ông và bà T không có tài sản chung, không có nợ chung.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trần Thị Bé T trình bày: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thọ T1; Về con chung: Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015. Tài sản chung, nợ chung: Không có;
Bị đơn ông Nguyễn Thọ T1 có đơn xin vắng mặt;
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Bé T được ly hôn với ông Nguyễn Thọ T1; Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015 cho bà Trần Thị Bé T; ông Nguyễn Thọ T1 không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có; Án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng bà T phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn là ông Nguyễn Thọ T1, cư trú tại: Số A Đường A, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.
[2]. Về tố tụng: Ông Nguyễn Thọ T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thọ T1.
[3]. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bà T và ông T1 đã chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2015, ngày 17/6/2015 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bé T và ông Nguyễn Thọ T1 là hợp pháp.
Quá trình tiến hành tố tụng, ông T1 có lời khai xác nhận cuộc sống chung giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn và mong bà T cho cơ hôi để hàn gắn tình cảm vợ chồng, cùng nhau nuôi con nhưng bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bà khẳng định không còn tình cảm với ông T1. Xét quá trình sống chung giữa hai bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không còn sự tôn trọng nhau, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Do đó, việc bà T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông T1 là có cơ sở chấp nhận.
Về con nuôi chung: Bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng người con Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Tại Bản tự khai ngày.../2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ông T1 có ý kiến, trường hợp bà T vẫn kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Tại Tờ trình bày nguyện vọng đề ngày ... của cháu N thì cháu có nguyện vọng muốn được sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015 cho bà Trần Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng, ông T1 không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận không có nợ chung.
[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà T phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0005824 ngày 18/10/2023;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị Bé T và ông Nguyễn Thọ T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 55/2015, ngày 17/6/2015 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Thọ T1 và bà Trần Thị Bé T không còn giá trị pháp lý.
- Về nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo N, sinh ngày 19/11/2015 cho bà Trần Thị Bé T trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Thọ T1 không cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu
đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Bé T phải nộp án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/000 ngày ........./2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 2210/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 2210/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: châp nhân yêu cầu của nguyên đơn
