|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 221/2023/HS-ST Ngày: 21/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Mạnh Hùng
- Bà Lê Thị Phương Anh
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 180/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 240/2023/QĐXXST-HS ngày 05/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T, Giới tính: N; Sinh năm 1984 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: E P, phường P, thị xã L, Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: lao động biển; Cha: Lê Văn M, sinh năm 1942; Mẹ: Hà Thị H, sinh năm 1945; Anh chị em ruột: có 08 người, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Bị hại: Phạm Văn Q - sinh năm 1973 (đã chết).
Trú tại: tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện hợp pháp của người bị hại: (có mặt)
Chị Bùi Thị L - sinh năm 1987,
Trú tại tổ dân phố T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: (vắng mặt)
Công ty TNHH T5
Địa chỉ: A đường B, khu dân cư H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Công ty TNHH S
Địa chỉ trụ sở: 4 B, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Chị Nguyễn Thị Thùy L1 - sinh năm 1983
Trú tại: A đường B, khu dân cư H, quận C, thành phố Cần Thơ.
Anh Nguyễn Thanh L2 - sinh năm 1983,
T1 tại: khu phố B, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Anh Phan Võ Thành V - sinh năm 1976
Trú tại: A L, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 15/02/2023, Lê Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 59S1-260.49 chở Phạm Văn Q trong điều kiện cả hai đã sử dụng rượu bia, lưu thông trên Quốc lộ A theo hướng Thành phố Hồ Chí Minh đi Hà Nội.
Khi T điều khiển xe mô tô biển số 59S1-260.49 chở Q đến tại km 1704+500 Quốc lộ A, đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, T đang lưu thông ở làn đường trong cùng bên phải theo chiều đi, cùng lúc này Phan Võ Thành V có giấy phép lái xe hạng FC số [...] do Sở Giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 22/8/2022 điều khiển xe đầu kéo biển số 65C- 105.66 kéo sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 lưu thông ở phần đường đường hỗn hợp ở giữa, cùng chiều với xe T đang chạy, khi đầu ô tô đầu kéo biển số 65C- 105.66 do V điều khiển chạy vượt qua xe mô tô biển số 59S1- 260.49 do T điều khiển thì bất ngờ T điều khiển xe mô tô biển số 59S1-260.49 chuyển làn đường từ làn đường trong cùng bên phải sang làn đường hỗn hợp ở giữa đâm va vào bên phải của sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26, làm Phạm Văn Q té ngã xuống đường, dẫn đến bánh sau của sơ mi rơ moóc biển số 65R- 005.26 cán lên người Quế, làm Q tử vong tại chỗ.
Vật chứng của vụ án:
01 xe ô tô đầu kéo biển số 65C-105.66 và sơ mi rơ moóc biển số 65R- 005.26; 01 xe mô tô biển số 51S1-260.49: thu giữ tại hiện trường.
Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, lập lúc 19 giờ 30 phút ngày 15/2/2023 thể hiện:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại km 1704+500 Quốc lộ A, đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đường Trường C được trải nhựa bằng phẳng, thẳng giữa tim đường có dải phân cách cố định chia mặt đường thành 02 phần đường cho phương tiện lưu thông ngược chiều nhau. Phần đường bên phải theo hướng TP H đi thành phố Hà Nội rộng 9m50 được chia làm 3 làn đường. Làn đường trong cùng rộng 2m50 và làn đường giữa rộng 3m45 có vạch kẻ đường sơn trắng liên tục để phân chia làn đường, làn đường ngoài cùng rộng 4m và làn đường giữa có vạch kẻ đường sơn trắng, đứt đoạn để phân chia làn đường, ở giữa dải phân cách có hệ thống đèn đường chiếu sáng, hai bên đường có nhiều nhà dân sinh sống.
- Lấy trụ đèn số 82 ở giữa dải phân cách làm điểm mốc.
- Lấy hướng TP H đi thành phố Hà Nội làm hướng chuẩn, lấy mép đường bên phải theo hướng chuẩn để tiến hành khám nghiệm hiện trường.
- Từ điểm mốc kéo đường thẳng về hướng đi thành phố Hà Nội, chếch vào lề phải 14m90 là đến vị trí tâm trục bánh sau xe mô tô 51S1-26049 (ký hiệu số 3). Xe mô tô (3) nằm ngả nghiêng sang trái, đầu xe quay về hướng lề phải, đuôi xe quay về hướng lề trái. T2 trục bánh trước và tâm trục bánh sau xe cách mép đường phải lần lượt là 2m25 và 0m90.
- Từ tâm trục bánh sau xe mô tô (3) kéo đường thẳng về hướng đi thành phố Hà Nội 13m90 là đến tâm trục bánh sau bên phải sơ mi rơ moóc. Xe ô tô đầu kéo 65C-105.66 và sơ mi rơ moóc 65R-005.26 (ký hiệu số 5). Xe ô tô (5) dừng trên mặt đường, đầu xe quay về hướng đi thành phố Hà Nội, đuôi xe quay về hướng đi TP H. T2 trục bánh trước xe đầu kéo bên phải và tâm trục bánh sau bên phải sơ mi rơ moóc cách mép đường phải lần lượt là 3m25 và 3m10.
- Hai vết phanh (ký hiệu số 1) trượt liên tục trên mặt đường theo hướng TP H đi thành phố Hà Nội đến vị trí tâm trục bánh sau bên phải sơ mi rơ moóc dài 18m70. Vết phanh (1) rộng 0m21 và vết phanh (2) rộng 0m21, hai vết phanh cách nhau 0m14. Đầu vết phanh cách mép đường phải là 3m20, vết cày (ký hiệu số 2) trượt không liên tục trên mặt đường theo hướng TP H đi thành phố Hà Nội đến vị trí gác chân sau bên trái xe mô tô (3) là 3m85. Đầu vết cày cách đầu vết phanh 2m20 và cách mép đường phải là 3m85.
- Tử thi (ký hiệu số 6) nằm sấp trên mặt đường dưới bánh xe thứ nhất bên phải của sơ mi rơ moóc, đầu tử thi quay về hướng lề trái, hai chân quay về hướng lề phải. Đầu tử thi và gót chân phải tử thi cách méo đường phải lần lượt là 3m85 và 2m20.
- Vết máu (ký hiệu số 4) có kích thước 15m x 1m70. T2 vết máu cách tâm trục bánh trước xe mô tô là 7m40 và cách mép đường phải là 3m10.
Kết quả khám xe mô tô 51S1-260.49 (do Lê Văn T điều khiển) sau tai nạn ghi nhận:
- Kính chiếu hậu bên trái bị gãy rồi rơi ra khỏi xe chỉ còn lại gọng kính và bị cong đẩy theo hướng từ ngoài vào trong, lệch so với vị trí ban đầu. Tại vị trí đai ốc gắn thanh kim loại của kính chiếu hậu có vết chà mòn khuyết kim loại, kích thước (1,5x0,5) cm.
- Đầu núm tay thắng trước bên trái có vết chà mòn khuyết cao su theo hướng từ trước ra sau, kích thước (2,5x2) cm.
- Ốp nhựa bên trái gắn đèn chiếu sáng trước có vết chà mòn khuyết sơn nhựa theo hướng từ trước ra sau kích thước (21x0,5) cm.
- Ốp nhựa gắn bên ngoài hông bên trái phía trước có vết chà mòn sơn nhựa nham nhở theo hướng từ trước ra sau kích thước (6x1) cm.
- Ốp nhựa bảo vệ gồm xe phía dưới bên trái, có vết chà mòn sơn nhựa theo hướng từ trước ra sau kích thước (13x3,5) cm.
- Ốp nhựa bảo vệ gầm xe phía dưới bên trái có vết chà mòn khuyết sơn kim loại có kích thước (2,5x1) cm, tâm cách đất 26,5 cm.
- Mặt ngoài phía trước lốc bảo vệ máy bên trái có vết chà mòn khuyết sơn kim loại theo hướng từ trước ra sau kích thước (3x2) cm, tâm cách đất 16 cm.
- Mặt ngoài phía trước của chân chống đứng ở vị trí bên trái có vết chà mòn khuyết kim loại kích thước (2x1) cm.
- Đầu nắm của tay năm sau ở vị trí bên trái có vết chà mòn khuyết kim loại nham nhở kích thước (4x0,5) cm, cách tâm vết này về pía sau 15 cm là vết chà mòn khuyết kim loại theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kích thước (5x1) cm, trên bề mặt có dính chất màu đen
- Ở vị trí phía sau bên phải của tay nắm sau có ết chà mòn kim loại theo hướng từ dưới lên trên kích thước (9x1) cm, tâm cách đất 85 cm.
- Đèn chuyển hướng sau bên phải bị bể vỡ nhựa kích thước (10x4) cm, âm cách đất 40 cm.
Kết quả khám xe ô tô 65C-105.66 và sơ mi rơ moóc 65R-005.26 (do Phan Võ Thành V điều khiển) sau tai nạn ghi nhận:
- Tại vị trí của thanh sắt phía trên bảo vệ bên phải rơ moóc 65R-005.26 có vết chà mòn kim loại theo hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới kích thước (3,5x0,3) cm, tâm cách đất 76 cm, tâm vết cày cách tâm trục bánh sau đầu tiên bên phải của rơ moóc là 3m94.
Tại Kết luận giám định số 281/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của Phòng PC 09- Công an tỉnh B kết luận về an toàn kỹ thuật của xe ô tô 65C-105.66 và sơ mi rơ moóc 65R-005.26:
- * Xe ô tô đầu kéo biển số 65C-105.66:
- Hệ thống lái dùng post tay lái, hoạt động bình thường khi xoay vô lăng.
- Hệ thống phanh chính sử dụng phanh khí nén, phanh đỗ thuộc loại tự hãm tác động lên trên các bánh xe trục II-III, hoạt động bình thường, không phát hiện hư hỏng khi phanh.
- Hệ thống còi hoạt động bình thường.
- Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu hoạt động bình thường, không phát hiện hư hỏng.
- Hệ thống động cơ, hệ thống khung gầm hoạt động bình thường.
- * Rơ moóc biển số 65R-005.26:
- Hệ thống phanh chính sử dụng phanh khí nén, hoạt động bình thường, không phát hiện hư hỏng khi phanh.
- Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu hoạt động bình thường, không phát hiện hư hỏng.
- Hệ thống khung gầm không phát hiện hư hỏng.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 64 ngày 03/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của Phạm Văn Q như sau:
- Choáng không hồi phục do đa chấn thương dẫn đến tử vong/Tổn thương phức tạp các tạng trong khoang, ngực, bụng.
- Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn (E) trong máu: 250,31 mg/100ml
Tại Kết luận giám định số 282 ngày 20/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận về dấu vết cơ học của vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô 59S1-260.49 và xe ô tô đầu kéo 65C-105.66 kéo theo sơ mi rơ moóc 65R-005.26:
Xe ô tô đầu kéo 65C-105.66 kéo theo sơ mi rơ moóc 65R- 005.26 va chạm với xe mô tô 59S1-260.49 tại làn đường giữa thuộc phần đường bên phải theo hướng từ TP . đi TP ..
- Sơ mi rơ moóc 65R-005.26 được kéo bởi xe ô tô đầu kéo 65C-105.66 có dấu vết va chạm: Trượt xước kim loại mặt ngoài thanh dọc phía trên cản hông bên phải sơ mi rơ moóc, chiều hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái, từ trên xuống dưới phù hợp với dấu vết va chạm trên xe mô tô 59S1-260.49: Trượt xước kim loại mặt ngoài đầu tay phanh bên trái, chiều hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải.
- Sơ mi rơ moóc 65R-005.26 được kéo bởi xe ô tô đầu kéo 65C-105.66 có chiều hướng va chạm từ trước ra sau, từ phải qua trái, từ trên xuống dưới; xe mô tô 59S1-260.49 có chiều hướng va chạm từ sau ra trước, từ trái qua phải.
Xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển số 65C-105.66 thuộc sở hữu của Công ty TNHH T5 và Sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị Thùy L1 cho anh Huỳnh Bá C1, người được ủy quyền. Cửu đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Xe mô tô biển số 59S1-260.49 của chủ sở hữu là Công ty TNHH S, giao cho anh Nguyễn Thanh L2 quản lý sử dụng. Ngày 15/02/2023, L2 để xe ở nhà, Phạm Văn Q tự ý lấy xe và giao xe cho Lê Văn T đi nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho L2. Liêu không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Về phần dân sự:
Chị Bùi Thị L là vợ của bị hại Q, đã nhận số tiền 75.000.000 đồng do Phan Võ Thành V và Huỳnh Bá C1 tự nguyện hỗ trợ.
Chị L yêu cầu Lê Văn T bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng để nuôi con và nuôi mẹ già, cho đến nay T chưa bồi thường.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn T đã bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận truy tố tại bản cáo trạng số 183/CT-VKS-HS ngày 02/10/2023 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận của bị cáo, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thấy rằng, hành vi của bị cáo Lê Văn T, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án từ 03 năm tù đến 03 năm 04 tháng tù.
Về dân sự: Chị L yêu cầu Lê Văn T bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng để nuôi con và nuôi mẹ già, cho đến nay T chưa bồi thường.
Tại phiên tòa T đồng ý bồi thường cho chị L số tiền 300.000.000 đồng là chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng để nuôi con và nuôi mẹ già, nên buộc bị cáo T bồi thường số tiền này.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển số 65C-105.66 thuộc sở hữu của Công ty TNHH T5 và sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 thuộc sở hữu của Nguyễn Thị T3 cho Huỳnh Bá C1, người được ủy quyền. Các bên đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Xe mô tô biển số 59S1-260.49 của chủ sở hữu là Công ty TNHH S, giao cho Nguyễn Thanh L2 quản lý sử dụng. Ngày 15/02/2023, L2 để xe ở nhà, Phạm Văn Q tự ý lấy xe và giao xe cho Lê Văn T đi nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho L2. Liêu không yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản kết luận giám định pháp y cùng các chứng cứ, tài liệu được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 15/02/2023, tại km 1704+500 Quốc lộ A, đường T thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Lê Văn T không có giấy phép lái xe theo quy định, có nồng độ cồn trong máu 0.970 mg/L, trực tiếp điều khiển xe mô tô biển số 51S1-260.49 chở Phạm Văn Q ngồi phía sau. Do không làm chủ tay lái đã điều khiển xe mô tô biển số 59S1-260.49 từ làn đường dành cho xe thô sơ sang phần đường dành cho xe cơ giới dẫn đến đâm va vào bên hông phải của xe đầu kéo biển số 65C-105.66 kéo sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 do Phan Võ Thành V điều khiển đang lưu thông cùng chiều, làm Phạm Văn Q tử vong.
Đối chiếu biên bản ghi nhận hiện trường, biên bản dựng lại hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường và lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra cho thấy: Lê Văn T chưa được cấp giấy phép lái xe, sau khi sử dụng rượu bia vẫn cố tình điều khiển xe mô tô chở Phạm Văn Q ngồi phía sau. Do không làm chủ tay lái đã điều khiển xe mô tô biển số 59S1-260.49 từ làn đường dành cho xe thô sơ sang phần đường dành cho xe cơ giới dẫn đến đâm va vào bên hông phải của xe đầu kéo biển số 65C-105.66 kéo sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 do Phan Võ Thành V điều khiển đang lưu thông cùng chiều, làm Phạm Văn Q tử vong. Hành vi của Hành vi của Lê Văn T đã vi phạm khoản 8 Điều 8 (được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia) và khoản 1 Điều 13 Luật giao thông đường bộ.
Như vậy lỗi gây ra tai nạn hoàn toàn thuộc về bị cáo T và đây cũng là nguyên trực tiếp gây ra tai nạn dẫn đến việc anh Phạm Văn Q tử vong. Từ phân tích ở trên cho thấy hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi lượng hình cũng cần xem xét vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về mức hình phạt: Ý kiến của vị đại diện viện kiểm sát về mức hình phạt là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vì khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật hình sự vì hành vi bị cáo thuộc tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, đồng thời những năm qua, cùng với sự vào cuộc quyết liệt của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã có nhiều chủ trương, kế hoạch, tổ chức triển khai thực hiện nhiều giải pháp đảm bảo trật tự, an toàn giao thông nhưng tai nạn giao thông vẫn diễn biến hết sức phức tạp nên thời gian qua, tất cả các địa phương ra quân triển khai mạnh mẽ Tháng an toàn giao nhưng tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn cả nước nói chung và thành phố P nói riêng vẫn diễn biến rất phức tạp nên cần nghiêm khắc xử phạt bị cáo một mức án tù tương xứng với hành vi phạm tội của mình nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của bị hại là chị L yêu cầu T bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng để nuôi con và nuôi mẹ già, cho đến nay T chưa bồi thường.
Tại phiên tòa T đồng ý bồi thường cho chị L số tiền 300.000.000 đồng là chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần và cấp dưỡng để nuôi con và nuôi mẹ già, nên buộc bị cáo T bồi thường số tiền này.
[6] Về xử lý vật chứng: Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô đầu kéo biển số 65C-105.66 thuộc sở hữu của Công ty TNHH T5 và sơ mi rơ moóc biển số 65R-005.26 thuộc sở hữu của Nguyễn Thị T3 cho Huỳnh Bá C1, người được ủy quyền. Các bên đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên không xem xét.
Xe mô tô biển số 59S1-260.49 của chủ sở hữu là Công ty TNHH S, giao cho Nguyễn Thanh L2 quản lý sử dụng. Ngày 15/02/2023, L2 để xe ở nhà, Phạm Văn Q tự ý lấy xe và giao xe cho Lê Văn T đi nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho L2. Liêu không yêu cầu bồi thường gì về dân sự, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí Hình sự và Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Lê Văn T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, Điều 585, Điều 591 và Điều 601 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Lê Văn T bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, gồm chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần, cấp dưỡng để nuôi con nhỏ và nuôi mẹ già của bị hại cho chị Bùi Thị L.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 467 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2/ Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn T, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (21/11/2023), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lưu T4 |
Bản án số 221/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 221/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
