|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 221/2024/HSST Ngày: 04/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Long và bà Lê Thị Thu Hạnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên- Cán bộ
Toà án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hùng- Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 208/2024/TLST- HS ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2024/QĐXXST- HS ngày 07/10/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐ- HPT ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Diệu H, sinh năm 1991, HKTT: Khu G, thị trấn V, huyện T, TP .; Chỗ ở: Nhà A, khu tập thể Q, xã N, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Họ tên bố: Phạm Văn T; Họ tên mẹ: Chu Thị C, C1: Nguyễn Trung G, có 03 con: Lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2023.
Theo danh chỉ bản số 441 ngày 27/06/2024 do Công an huyện T lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền sự, tiền án
Bị cáo bị bắt khẩn cấp và bị tạm giữ từ ngày 18/06/2024 đến ngày 27/06/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa
2. Họ và tên: Nguyễn Minh S, sinh năm 1980, HKTT: Số B ngõ G đường T, thị trấn V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Họ tên bố: Nguyễn Văn S1; Họ tên mẹ: Hoàng Thị N; Vợ: Vũ Thị Kim C2, có 02 con sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017
Theo danh chỉ bản số 442 ngày 27/06/2024 do Công an huyện T lập và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/06/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H
(Có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 55 phút ngày 18/06/2024, tại đường V, thuộc địa phận xã T, huyện T, Hà Nội, tổ công tác Công an thị trấn V trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Minh S điều khiển xe mô tô BKS: 30X5-3501 có biểu hiện nghi vấn nên đã dừng xe để kiểm tra. Tại chỗ, S tự nguyện giao nộp từ trong lòng bàn tay trái 01 túi nilon bên trong có 05 viên nén màu đỏ và khai nhận là ma túy mua của Phạm Diệu H. Công an thị trấn V đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật và đưa S về trụ sở để làm rõ. Ngoài ra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T còn tạm giữ của Nguyễn Minh S 01 điện thoại Samsung J2Prime số thuê bao 0949721234; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, gắn BKS: 30X5-35.10; số khung: 0357.48; số máy: 1068011.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tiến hành triệu tập Phạm Diệu H đến trụ sở để làm việc và ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Diệu H.
Hồi 13 giờ 05 phút ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Diệu H tại số 01 BT2, tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội phát hiện thu giữ: 02 vỏ túi nilon màu xanh ở bếp ăn tầng 1 và 01 hộp giấy bên trong có 01 vỏ túi nilon màu xanh nền tầng 3.
Ngoài ra, Cơ quan CSĐT - Công an huyện T còn tạm giữ của Phạm Diệu H 01 điện thoại Iphone 12 màu đen số thuê bao 0965901991.
Kết quả xét nghiệm ma túy thể hiện: Nguyễn Minh S và Phạm Diệu H đều dương tính với ma túy Methamphetamine.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với số vật chứng thu giữ của Nguyễn Minh S và Phạm Diệu H.
Tại bản kết luận giám định số 4654/KL-HTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: "05 viên nén màu đỏ bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,539 gam."
Tại bản kết luận giám định số 4656/KL-HTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: "02 vỏ túi nilon màu xanh (trong hộp nhựa) và 01 vỏ túi nilon màu xanh (trong hộp giấy) đều có dính ma túy loại Methamphetamine."
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Minh S khai nhận: Do quen biết với Phạm Diệu H là người cũng sử dụng ma túy, nên khoảng 09 giờ 00' ngày 18/06/2024, S gọi điện từ số điện thoại 0949.721.xxx của S vào số điện thoại 0965.901.xxx của H hỏi mua 05 viên ma túy "Ngựa". H đồng ý bán cho S với giá 400.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô đến nhà H, ở khu tập thể Z, thuộc địa phận xã T, huyện T, Hà Nội để mua ma túy. Tại đây, H đã bán 05 viên ma túy "Ngựa" đựng trong 01 túi nilon cho S với giá 400.000 đồng. Mua xong, S điều khiển xe mô tô về nhà thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Phạm Diệu H khai nhận: H có sử dụng ma túy "Ngựa" nên khoảng 21 giờ 00' ngày 17/6/2024, H đến khu vực Cầu V, thuộc thị trấn V, huyện T tìm mua ma túy về sử dụng, phần còn lại sẽ bán cho người khác để kiếm lời. Tại đây, H gặp và mua được 06 viên ma túy "Ngựa", đựng trong 03 túi nilon nhỏ (mỗi túi đựng 02 viên) của một nam thanh niên không quen biết với giá 400.000 đồng. Mua xong, H mang số ma túy trên về nhà và lấy 01 viên ra sử dụng. Số ma túy còn lại H cất giấu trong người. Đến khoảng 09 giờ ngày 18/6/2024, H nhận điện thoại của S từ số 0949.721.xxx đến số 0965901991 của H, bảo bán cho S 05 viên ma túy "Ngựa". H đồng ý bán cho S với giá 400.000 đồng. Ngay sau đó, H lấy 03 viên ma túy trong 02 túi nilon cho cùng vào 01 túi nilon bên trong có 02 viên ma túy "Ngựa" (thành 01 túi có 05 viên ma túy Ngựa), 02 vỏ túi nilon còn lại H để trong nhà. Khi S đến, H đã bán cho S 01 túi nilon bên trong có 05 viên ma túy "Ngựa" như đã thỏa thuận trước đó với S. Mua xong, S điều khiển xe mô tô về nhà. Còn H đã sử dụng hết số tiền 400.000 đồng đã bán ma túy cho S. Sau đó, H được Cơ quan Công an mời đến trụ sở để làm việc và khai nhận như trên.
Đối với nam thanh niên đã bán ma túy cho H, do H khai không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX (gắn BKS: 30X5-35.10; số khung: 0357.48; số máy: 1068011) thu giữ của Nguyễn Minh S; S khai mượn của một người bạn tên là H1 không rõ họ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể. Kết quả tra cứu xác định: Biển số: 30X5-3510 được đăng ký cho xe mô tô nhãn hiệu Wave S của anh Dương Sỹ T1, sinh năm: 1980; HKTT: Thôn P, xã T, huyện T, Hà Nội, hiện anh T1 vẫn đang sử dụng chiếc xe mô tô này. Xe mô tô có số khung: 035748, số máy: 1068011 được đăng ký BKS: 29D1-739.68 là xe mô tô nhãn hiện Honda Wave RSX, đăng ký chủ sở hữu là chị Cao Thị H2, sinh năm: 1980; HKTT: Số A ngách B, TDP C N, quận H, Hà Nội, năm 2016 chị L đã bán xe mô tô cho người không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Xe mô tô BKS: 29D1-739.68 không có trong dữ liệu xe vật chứng. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô thu giữ của S để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
Đối với 05 viên nén ma túy và 01 điện thoại Samsung J2Prime bên trong số thuê bao 0949721234 thu giữ của Nguyễn Minh S; 03 vỏ túi nilông thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Diệu H và 01 điện thoại Iphone 12 màu đen số thuê bao 0965901991 thu giữ của H là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 206/CT- VKS - TT ngày 30/09/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Phạm Diệu H về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Minh S về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà:
- - Các bị cáo Phạm Diệu H và Nguyễn Minh S thành khẩn khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận bản cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng và không kêu oan. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát duy trì công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đề nghị như sau:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Xử phạt Phạm Diệu H mức án từ 28 tháng đến 30 tháng tù
- Buộc bị cáo H phải truy nộp 400.000 đồng số tiền thu lời bất chính.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo H
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Xử phạt:
- Nguyễn Minh S mức án từ 16 tháng đến 18 tháng tù
- * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo S
- * Xử lý tang vật:
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, gắn BKS: 30X5-35.10; số khung: 0357.48; số máy: 1068011, thu giữ của Nguyễn Minh S, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau, do đó không xem xét.
- Tịch thu tiêu hủy 0,431 gam Methamphetamine còn lại sau giám định; 03 vỏ túi nilong có dính ma túy
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại Samsung J2Prime bên trong số thuê bao 0949721234 thu giữ của Nguyễn Minh S; 01 điện thoại Iphone 12 màu đen số thuê bao 0965901991 thu giữ của Phạm Diệu H
NHẬN ĐỊNH CỦA CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Diệu H, Nguyễn Minh S tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, Biên bản khám xét khẩn cấp, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với bản kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
- Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 18/6/2024, tại khu tập thể Z179, xã T, huyện T, Hà Nội, Phạm Diệu H đã có hành vi bán trái phép 0,539 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Minh S với giá 400.000 đồng. Đến hồi 09 giờ 55 phút cùng ngày, tại đường V, xã T, huyện T, Hà Nội, khi S đang tàng trữ trái phép 0,539 gam ma túy loại Methamphetamine vừa mua được của H với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thị trấn V phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
- Hành vi của bị cáo Phạm Diệu H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh S đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo Phạm Diệu H với tội danh “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự, truy tố bị cáo S với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
- Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy đối với con người và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, nhưng do hám lời và thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của mình nên đã lao sâu vào con đường phạm tội do đó cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
- Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử nhận thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H đã tự nguyện truy nộp số tiền thu lời bất chính để sung ngân sách Nhà nước và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo H không có nghề nghiệp và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng nên miễn phạt tiền cho bị cáo; đối với bị cáo S không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 0,431 gam Methamphetamin còn lại sau giám định, 03 vỏ túi nilong có dính ma túy là vật cấm lưu hành và là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 điện thoại Samsung J2Prime bên trong số thuê bao 0949721234 thu giữ của Nguyễn Minh S; 01 điện thoại Iphone 12 màu đen số thuê bao 0965901991 thu giữ của Phạm Diệu H, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS: 30X5-35.10; số khung: 0357.48; số máy: 1068011 thu giữ của Nguyễn Minh S, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau, do đó không xem xét trong vụ án này.
- Buộc bị cáo Phạm Diệu H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính 400.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Diệu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Phạm Diệu H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/06/2024 đến ngày 27/06/2024
- Buộc bị cáo Phạm Diệu H phải truy nộp số tiền thu lời bất chính là 400.000 đồng (Bốn trăm đồng) để sung Ngân sách Nhà nước. Xác nhận bị cáo H đã nộp số tiền 400.000 đồng (Bốn trăm đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007462 ngày 28/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo H
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt Nguyễn Minh S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/06/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho bị cáo S
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chứa 0,431 gam ma túy loại Methamphetamin (còn lại sau giám định), 01 phong bì niêm phong có chứa 03 vỏ túi nilong đều dính ma túy loại Methamphetamin.
- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại có chữ Samsung màu hồng có gắn sim số 0949721234 mặt trước điện thoại bị vỡ; 01 điện thoại có chữ Iphone 12 màu đen có gắn sim số 0965901991 đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong của máy điện thoại.
- Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT – Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì ngày 14/10/2024.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Diệu H, Nguyễn Minh S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |
Bản án số 221/2024/HSST ngày 04/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 221/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Phạm Diệu H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
