|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 221/2024/HSST Ngày 28 - 10 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Nhất
Bà Nguyễn Thị Vượng
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 203/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QÐST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trịnh Quang S (tên gọi khác: không), sinh năm: 1988. Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông: Trịnh Quang V, sinh năm: 1962; Con bà: Đào Thị T, sinh năm 1960; Vợ: Lý Thị T1, sinh năm: 1991 (đã ly hôn); Con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 68 ngày 27/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 01/6/2023.
Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 18/8/2022 bị Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Đỗ Trí D (Tên gọi khác: không), sinh năm 1997. Giới tính: nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Đường T, Tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do, Văn hóa: 8/12; Con ông: Đỗ Trọng M, sinh năm 1969 và bà: Trịnh Thị T2, sinh năm 1972; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 165 ngày 16/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 10/9/2023.
1
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Đăng Q (tên gọi khác: không), sinh năm 1999. Giới tính: nam; ĐKHK và nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 07/12. Con ông: Nguyễn Đăng S1, sinh năm 1977 và bà: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1977. Vợ, con: chưa có. Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Lê Thùy T4, sinh năm: 2002; Địa chỉ: Thôn X, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- - Nguyễn Văn L - sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- - Phan Tiến D1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ C, phường M, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)
- - Trịnh Thị T5, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trịnh Quang S, sinh năm 1988 mở quán nước được cải tạo làm từ thùng Container đặt cạnh đường gom cao tốc Hà Nội-Bắc Giang thuộc địa phận thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. S có cho Nguyễn Đăng Q, sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, xã Đ nhờ tại quán nước trên. Đỗ Trí D, sinh năm 1997, trú tại tổ C, phường M, thành phố B là em họ S và thường xuyên đến quán chơi.
Buổi tối ngày 23/02/2024 tại quán nước có Trịnh Quang S, Đỗ Trí D, Nguyễn Đăng Q ngồi uống nước. Ngoài ra còn có Nguyễn Văn L, sinh năm 1997, trú tại thôn C, xã Đ, thành phố B và một số người bạn của S tên là Đ, T6, T7, N đến chơi. Trong lúc ngồi uống nước, S nhờ D liên lạc với Lê Thùy T4, sinh năm 2002, trú tại thôn X, xã T, thành phố B rủ đến quán chơi. D sử dụng điện thoại di động nhắn tin cho T4 rủ đến quán của S chơi thì T4 đồng ý rồi thuê xe taxi đi đến. Tại đây, T4 và S xảy ra mâu thuẫn với nhau liên quan đến chuyện tình cảm của hai người. Sau đó, S mượn chiếc xe ô tô taxi BKS 98A – 541.11 của anh Phan Tiến D1, sinh năm 1995 ở tổ C, phường M, thành phố B rồi điều khiển xe đưa T4 đến khu vực gầm cầu vượt ở ngã tư S-N. Hai người nói chuyện đến khoảng 23 giờ 20 phút thì đi về quán nước. Lúc này, một số người bạn của S đến chơi trước đó đã ra về. Khi về đến quán nước, T4 đi vào căn phòng bên trong quán nằm trên giường. S cũng đi vào và ngồi trên giường nói chuyện với T4. Lúc này, T4 nói đang buồn chán nên S nảy sinh ý định mua ma túy cho mọi người cùng sử dụng, nhưng S không nói cho T4 biết. S mượn điện thoại của Đỗ Trí D rồi đi ra ngoài gọi cho một người không quen biết qua ứng dụng T8 hỏi mua 2.000.000 đồng ma túy ketamin, người này hẹn gặp tại khu vực cầu vượt đi bộ ở tổ dân phố P, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để giao dịch. S điều khiển xe ô tô Biển số 98A – 541.11 đi một mình đến điểm hẹn và gặp một thanh niên không quen biết. S đưa
2
cho người này số tiền 2.000.000 đồng và nhận 01 túi nilon đựng ma túy ketamin được gói bên ngoài bằng giấy, dạng giấy ăn màu trắng. Sau khi mua được ma tuý, S điều khiển xe ô tô đi về quán nước, cất gói ma túy ở trên mặt bàn trước cửa ra vào. Sau đó, S trả xe ô tô và bảo anh D chở S, D, L, Đ đến trung tâm thành phố B ăn đêm, còn Q và T4 vẫn ở lại quán nước.
Khoảng 01 giờ ngày 24/02/2024, anh Phan Tiến D1 lái xe ô tô đưa mọi người quay lại quán nước của S rồi cùng Đ đi về. S, D1, L đi vào trong quán nước. Lúc này, T4 đang nằm ở phòng bên trong. S đi ra ngoài cầm gói giấy đựng túi ma túy ketamin đem vào trong quán rồi để trên mặt bàn uống nước và nói cho mọi người biết vừa mua được ma túy để sử dụng. Sau đó, S đi vào phòng bên trong ngồi nói chuyện cùng T4. Một lúc sau, Đỗ Trí D cầm gói ma túy đi vào phòng trong rồi ném túi ma tuý xuống giường gần vị trí S và T4 đang ngồi, sau đó D đi ra ghế sofa ngồi. S cầm gói ma túy đem ra bàn uống nước ở phòng ngoài rồi đổ một ít ma túy ra tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, dùng bật lửa dằm nhỏ ma tuý và hơ nóng để xào ma túy. Sau khi xào ma tuý xong, S cầm túi ma túy còn lại đi ra ngoài cửa đưa cho Q để cất đi. Q cất giấu túi ma túy trong lỗ rỗng ở sườn thùng container. Tại phòng khách của quán nước, S dùng ống hút nhựa màu cam có sẵn trên bàn rồi tự sử dụng ma túy bằng cách hít qua mũi vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma tuý xong, S cầm ống hút và tờ tiền đi vào phòng bên trong đưa ống hút cho T4 và cầm tờ tiền đựng ma tuý giơ lên cho T4 sử dụng. T4 sử dụng ma tuý bằng cách hít vào cơ thể rồi trả lại ống hút. S cầm ống hút và tờ tiền đựng ma túy đi ra bàn uống nước đưa cho D sử dụng, sau đó S vào trong cùng T4. D tự sử dụng bằng cách hít vào cơ thể rồi đưa tờ tiền đựng ma túy và ống hút cho L sử dụng. Lãm tự sử dụng ma tuý bằng cách hít vào cơ thể rồi đặt tờ tiền và ống hút xuống mặt bàn. Q đi vào thấy ống hút và tờ tiền đựng ma túy để trên mặt bàn, Q đã lấy sử dụng hết số ma túy còn lại.
Sau khi sử dụng ma tuý xong, Q đi ra ngoài lấy túi ma túy đã cất giấu trước đó mang vào phòng khách đưa cho D để D xào ma tuý. D đổ 1 phần ma túy trong túi ra tờ tiền 5000 đồng, dùng bật lửa dằm nhỏ và xào ma tuý, túi ma túy còn lại thì D để trên mặt ghế sofa. Thấy vậy, Q cầm túi ma túy để lên trên thành ghế sofa. Sau khi xào ma tuý xong, D cầm ống hút và tờ tiền đựng ma túy đi vào trong phòng đưa cho T4 để sử dụng, T4 tự sử dụng ma tuý xong thì để tờ tiền và ống hút xuống giường, S cầm tờ tiền đựng ma túy và ống hút rồi tự sử dụng hết sau đó để ở cạnh sườn đệm và nằm nghe nhạc. D, Q, L nằm ở ghế phòng khách để tiếp tục sử dụng số ma tuý còn lại.
Khoảng 02 giờ 40 phút cùng ngày, Công an thành phố B phối hợp cùng Công an xã S kiểm tra quán nước của Trịnh Quang S phát hiện lập biên bản đối với S, Q, D, T4, L1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã lập biên bản thu giữ vật chứng, tài sản gồm: 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong đều bám dính chất bột màu trắng được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT1” dán kín niêm phong; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bề mặt bám dính chất bột màu trắng được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT2” dán kín niêm phong; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong bám dính chất bột màu trắng được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT3” dán kín niêm phong; 01
3
tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bề mặt đều bám dính chất bột màu trắng được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT4” dán kín niêm phong; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, đựng chất tinh thể màu trắng được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT5” dán kín niêm phong; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 đoạn ống hút nhựa màu cam đều bám dính chất bột màu trắng- nghi là ma được cho vào một phong bì thư ký hiệu “KT6” dán kín niêm phong; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream gắn BKS 98B1 – 478.32; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vespa LX gắn BKS 98B2 – 699.53; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS 98B2 – 920.74; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave gắn BKS 29K3 – 799.99; 01 loa điện tử màu đen; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max của Trịnh Quang S; 01 điện thoại di động Iphone 6Plus màu trắng của Nguyễn Đăng Q; 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax màu xanh của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Đỗ Trí D; 01 điện thoại di động Iphone 14Pro của Lê Thùy T4. Ngoài ra, khám xét nơi ở của Trịnh Quang S nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 24/02/2024 của Công an thành phố B đối với Trịnh Quang S, Nguyễn Đăng Q, Đỗ Trí D, Nguyễn Văn L, Lê Thùy T4 đều dương tính với chất ma tuý KET.
Ngày 24/02/2024, Cơ quan điều tra cho Trịnh Quang S, Nguyễn Đăng Q, Đỗ Trí D, Nguyễn Văn L, Lê Thùy T4 xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Tất cả những người nêu trên đều xác định sử dụng ma túy tại quán nước của S. S thực hiện động tác đi mua ma túy; để túi ma tuý tại mặt bàn uống nước; D thực hiện động tác cầm túi ma túy đem vào phòng bên trong và ném xuống giường gần vị trí S và T4 ngồi; S cầm túi ma túy mang ra phòng ngoài, đổ ma tuý ra tờ tiền 5000 đồng, dùng bật lửa dằm nhỏ và hơ xào rồi tự sử dụng; cầm tờ tiền chứa ma túy và ống hút đưa cho T4 sử dụng; cầm ma túy đưa cho D sử dụng; D thực hiện động tác tự sử dụng ma tuý rồi đưa cho L sử dụng sau đó để xuống bàn. Q tự lấy ma túy trên bàn và sử dụng; S đưa túi ma túy cho Q để Q đi cất giấu tại lỗ tròn rỗng container của quán; cầm túi ma túy đem vào đưa cho D; D đổ ma túy ra tờ tiền 5000 đồng, dùng bật lửa dằm nhỏ và hơ xào rồi đi vào đưa cho T4 và S sử dụng. S, D, Q và T4, L đã được quan sát ảnh túi ma túy, tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, ống hút nhựa màu cam và đều xác nhận là túi ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy tại quán nước của S.
Kết quả kiểm tra điện thoại Iphone XS Max của D và điện thoại Iphone 14 Pro của T4 tại mục mesenger có tin nhắn nội dung D rủ T4 đến quán nước của S chơi. Kiểm tra các điện thoại di động khác không phát hiện nội dung vi phạm pháp luật.
Kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
“- Trong 01 phong bì ký hiệu "KT1" được niêm phong gửi giám định: Trong 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh và 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ đều có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
4
Trong 01 phong bì ký hiệu "KT2" được niêm phong gửi giám định: Trên 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 phong bì ký hiệu "KT3" được niêm phong gửi giám định: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 phong bì ký hiệu "KT4" được niêm phong gửi giám định: Trên 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đều có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
Trong 01 phong bì ký hiệu "KT5" được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ là ma tuý loại Ketamine, có khối lượng 1,352 gam.
Trong 01 phong bì ký hiệu "KT6" được niêm phong gửi giám định: Trong 01 đoạn ống hút nhựa màu cam và trên 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, (bên ngoài là 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ) đều có bám dính chất ma tuý, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu."
Bản cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố các bị cáo Trịnh Quang S, Đỗ Trí D, Nguyễn Đăng Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xác định đủ căn cứ chứng minh các bị cáo đã phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX):
- - Áp dụng điểm b khoản 2 điều 255; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung đối với bị cáo Trịnh Quang S, bị cáo Đỗ Trí D.
- + Xử phạt bị cáo Trịnh Quang S từ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
- + Xử phạt bị cáo Đỗ Trí D từ 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù đến 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 điều 255; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đăng Q.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q từ 07 (bẩy) năm đến 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
Đề nghị miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
- + Về vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 biển xe mô tô số 29K3 - 799.99; Các phong bì thư chứa ma túy được hoàn lại sau giám định; vật dụng các bị cáo sử dụng ma túy.
5
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước các tờ tiền thu được các bị cáo dùng trong quá trình sử dụng ma túy đã được thu giữ và niêm phong trong các phong bì thư.
- Trả lại các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm: Trả cho chị Trịnh Thị T5 01 loa điện tử màu đen và 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng; Trả cho Lê Thùy T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro; Trả cho Nguyễn Văn L 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu xanh; Trả Trịnh Quang S 01 điện thoại Nokia màu xanh và 1 điện thoại Iphone 12 Pro Max; Trả Nguyễn Đăng Q 01 điện thoại di động Iphone 6Plus màu trắng.
Tạm giữ tài sản của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Đỗ Trí D đã sử dụng để S liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
Các bị cáo S, Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo D thuộc diện hộ cận nghèo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo đều khai đã nhận thức thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, thấy năn năn, hối cải về hành vi của mình, không tranh luận, không bào chữa gì và đều xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Chị T5 có mặt xác định 01 loa điện tử màu đen và 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu hồng là của chị cho S mượn. Đề nghị cho xin lại.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì, HĐXX đánh giá hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. HĐXX thấy, Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người trên, trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã lấy lời khai, tại phiên tòa không ai có ý kiến gì về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên, do đó sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, HĐXX căn cứ điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vụ án.
[2]. Về hành vi của các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo Trịnh Quang S, Đỗ Trí D, Nguyễn Đăng Q tại phiên tòa đều thừa nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với nhau. Lời khai của các bị cáo còn được chứng minh bởi lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản kiểm tra hành chính, kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, vật
6
chứng thu giữ và kết quả giám định các vật chứng thu giữ nghi ma túy được xác định tại các kết luận giám định số 441/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K công an tỉnh B; Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu giữ của các bị cáo và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Từ lời khai của các bị cáo, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở xác định: Buổi tối ngày 23/02/2024, Trịnh Quang S, Đỗ Trí D, Nguyễn Đăng Q có mặt tại quán nước của S được cải tạo từ thùng container đặt tại ven đường gom cao tốc thuộc thôn S, xã S, thành phố B. Ngoài ra có Lê Thùy T4, Nguyễn Văn L đến quán chơi. Sau đó, S nảy sinh ý định đi mua ma túy về cho mọi người sử dụng nên S đã tự liên lạc và đến khu vực cầu vượt đi bộ tại tổ dân phố P, phường T, thị xã V mua của người không quen biết 01 túi ma túy ketamine với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, S mang về cất giấu tại quán nước và cùng bạn đi ăn đêm. Đến khoảng hơn 01 giờ ngày 24/02/2024, quay lại quán nước, S cầm túi ma tuý để trên mặt bàn uống nước tại phòng khách và nói cho mọi người biết vừa mua được ma túy để sử dụng, rồi S đi vào phòng bên trong nói chuyện cùng T4. Sau đó, D cầm túi ma tuý đi vào phòng bên trong để trên giường gần vị trí S ngồi. S cầm túi ma tuý đi ra phòng khách đổ một phần ma túy ra tờ tiền 5000 đồng, phần ma tuý còn lại thì S đưa cho Q bảo Q đem đi cất. S dùng bật lửa dằm nhỏ và xào ma tuý rồi tự sử dụng ma tuý trước, sau đó đưa lần lượt cho T4 và D sử dụng. D sử dụng xong thì đưa cho L sử dụng. Lãm sử dụng xong để xuống bàn. Q tự lấy và sử dụng hết số ma túy còn lại. Tiếp đó, Q lấy túi ma túy còn lại đã cất giấu trước đó rồi đưa cho D xào ma tuý để mọi người tiếp tục sử dụng. D đổ một phần ma tuý ra xào rồi đưa cho T4 và S sử dụng. Khi các đối tượng đang sử dụng ma túy thì bị Công an phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng và số ma tuý chưa kịp sử dụng là 1,352 gam ketamine.
Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo nêu trên đã xâm phạm đến lĩnh vực quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, đe dọa sức khỏe, tính mạng con người, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm nguy hiểm khác. Với hành vi của các bị cáo S, D, Q nêu trên, HĐXX xét thấy đủ căn cứ để chứng minh các bị cáo phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 của Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Ngoài ra, khi cơ quan công an bắt còn thu giữ số ma túy là 1,352gam ketamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều khai đang sử dụng và tiếp tục sử dụng hết số ma tuý còn lại này nếu không bị phát hiện, căn cứ kết số lượng ma túy, số người sử dụng, mục đích sử dụng, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà không truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, HĐXX thấy là phù hợp. Như vậy, hành vi của các bị cáo S, D, Q bị truy tố tại bản cáo trạng số 206/CT-VKS ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang theo tội danh, điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
HĐXX đánh giá đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Trong vụ án, bị cáo S có hành vi đi mua và cung cấp ma tuý, địa điểm, công cụ sử dụng ma
7
tuý; Bị cáo D là người cầm túi ma tuý đưa cho S để sử dụng, trực tiếp xào ma tuý, đưa ma tuý cho L, T4 sử dụng; Bị cáo Q là người đã cất giấu ma tuý, lấy ma tuý đã cất giấu đem ra cho mọi người cùng sử dụng. Do vậy, S, Q, D đồng phạm về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong số ba bị cáo, HĐXX đánh giá vai trò của bị cáo S đứng đầu, tiếp đến là vai trò của bị cáo D và sau cùng là Q.
Nhân thân: Bị cáo S, bị cáo D đều có một tiền án, có nhân thân xấu. Bị cáo Q không có tiền án, tiền sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo S và bị cáo D đều có tiền án nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 điều 52 của BLHS. Bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, tất cả các bị cáo đều đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải và đều đầu thú nên được áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo, HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên buộc phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục mỗi bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy tương tự đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay. Khi lượng hình HĐXX có xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS, nhận thức, thái độ ăn năn, hối cải của mỗi bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho mỗi bị cáo. Mức hình phạt kiểm sát viên đề xuất đối với mỗi bị cáo HĐXX thấy là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4].Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 điều 255 Bộ luật hình sự.
[5]. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với các tài sản phương tiện cơ quan điều tra thu giữ của người liên quan và đã trả lại cho những người liên quan, HĐXX không xem xét.
Đối với các vật chứng là ma túy, công cụ, dụng cụ các bị cáo sử dụng cho việc mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vật cấm lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng, HĐXX quyết định tịch thu tiêu hủy, bao gồm: 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong đều bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT1”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT3”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, đựng chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT5”; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT6”; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29K3-799.99.
Đối với các tờ tiền thu được là tiền các bị cáo sử dụng để ma túy khi sử dụng bao gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bề mặt bám dính chất bột màu trắng
8
được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT2”; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bề mặt bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT4”; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT6”, HĐXX tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại Iphone XS Max của D được D cho S mượn sử dụng liên lạc mua ma túy, tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Trả lại cho các bị cáo và người liên quan các tài sản không liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật gồm: Trả cho Lê Thùy T4 01 điện thoại di động Iphone 14Pro; Trả cho Nguyễn Đăng Q 01 điện thoại di động Iphone 6Plus màu trắng; Trả cho Trịnh Quang S 01 điện thoại di động Nokia màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max; Trả cho anh Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax màu xanh; Trả lại cho chị Trịnh Thị T5 01 loa điện tử màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng.
Tạm giữ tài sản của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[6]. Đối với những người liên quan:
Đối với Nguyễn Văn L, Lê Thùy T4 có tham gia sử dụng ma túy cùng các bị cáo. Qúa trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định L, T4 không bàn bạc, đóng góp tiền, tham gia vào hoạt động cùng với các bị cáo trong vụ án tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy, do đó cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xác định không đồng phạm với các bị cáo, HĐXX thấy là phù hợp. Cơ quan Công an thành phố B đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L và T4 do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, HĐXX thấy là phù hợp.
Đối với anh Phan Tiến D1 đã cho Trịnh Quang S mượn chiếc xe ô tô biển số 98A - 541.11, sau đó S sử dụng xe để đi mua ma túy. Kết quả điều tra xác định anh D1 không biết S sử dụng xe trên làm phương tiện để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý, HĐXX thấy là phù hợp.
Đối với những người bạn của Trịnh Quang S có tên Đ, T6, T7, N. Kết quả điều tra xác định những người trên không tham gia tổ chức và không sử dụng ma tuý ngày 24/02/2024 tại quán nước của S. Theo S khai không biết địa chỉ những người này nên Cơ quan điều tra không lấy được lời khai, không xem xét trách nhiệm của những người trên, HĐXX không xem xét.
[7].Về án phí: Các bị cáo S, Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 21, 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo D1 được miễn án phí do thuộc diện hộ cận nghèo theo quy định tại điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[8]. Các bị cáo, những người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1- Về điều luật, tội danh, mức hình phạt:
Căn cứ khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2, khoản 3 Điều 106; điều 136, điều 333, điều 336, điều 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 3,
9
điểm đ khoản 1 điều 12; điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 255; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung đối với bị cáo Trịnh Quang S, bị cáo Đỗ Trí D.
+ Xử phạt bị cáo Trịnh Quang S 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
+ Xử phạt bị cáo Đỗ Trí D 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
- Căn cứ điểm b khoản 2 điều 255; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đăng Q.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng Q 07 (bẩy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/02/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong đều bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT1”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, bên trong bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT3”; 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa viền màu đỏ, đựng chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT5”; 01 đoạn ống hút nhựa màu cam bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT6”; 01 biển kiểm soát xe mô tô số 29K3-799.99.
Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, bề mặt bám dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT2”; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bề mặt bám đều dính chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT4”; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “KT6”.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone XS Max của Đỗ Trí D.
Trả cho chị Trịnh Thị T5 01 loa điện tử màu đen và 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu hồng; Trả lại cho chị Lê Thùy T4 01 điện thoại di động Iphone 14Pro; Trả cho anh Nguyễn Văn L 01 điện thoại di động Iphone 11 ProMax màu xanh; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đăng Q 01 điện thoại di động Iphone 6Plus màu trắng; Trả cho bị cáo Trịnh Quang S 01 điện thoại di động Nokia màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro Max.
Tạm giữ tài sản của các bị cáo để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí:
Bị cáo Trịnh Quang S, Nguyễn Đăng Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Trí D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
10
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hằng |
11
12
Bản án số 221/2024/HSST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 221/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Quang S, Đỗ Trí D, Nguyễn Đăng Qu có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đủ căn cứ kết tội theo điểm b, khoản 2 điều 255 BLHS. Tòa án xử phạt S 07 năm 06 tháng tù, D 07 năm 03 tháng tù, Qu 07 năm tù về tội trên.
