Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 221/2024/HS-ST

Ngày 28-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hiếu.
  2. Bà Lê Thị Kim Ngàn.

- Thư ký phiên toà:

  • + Tại điểm cầu trung tâm: Bà Phạm Thị Nguyên, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • + Tại điểm cầu thành phần: Ông Đỗ Minh Phước, Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:

  • Tại điểm cầu trung tâm: Ông Phạm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
  • Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28/10/2024, Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 213/2024/HSST ngày 09/10/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2535/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đinh Ngọc K (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1983 tại tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm Trà Hương, xã Giao An, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: phường B, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Xây dựng; Con ông Đinh Văn Chế (sinh năm 1958) và bà Trần Thị Ngát (sinh năm 1962); Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 người con; Vợ: Phạm Thị Tuyết (sinh năm 1982); Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019.

- Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn Đằng, sinh năm 1960.

Địa chỉ: 86/27 Thích Quảng Đức, Phường 5, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

  1. Ông Trương Hoàng N, sinh năm 1991.
  2. Địa chỉ: 16/7 đường 39, phường Hiệp Bình Chánh, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1989.
  4. Địa chỉ: 73 Yersin, phường Cầu Ông Lãnh, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 05 phút ngày 14/4/2024, tại giao lộ Bùi Thị Xuân - Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, Quận 1, các anh Trương Hoàng N, Nguyễn Hữu Q (là Công an Quận 1) đang đi tuần tra thì phát hiện Đinh Ngọc K đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59E1-730.26 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, các anh Nam, Quân phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái Khanh đang mặc có 02 gói nylon chứa bột màu trắng (Khanh khai là ma túy) nên đã tiến hành thu giữ các vật chứng, đưa Khanh về Công an phường Bến Thành, Quận 1 để xử lý.

Theo Kết luận giám định số 4726/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh: Bột trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đinh Ngọc K và hình dấu Công an phường Bến Thành, Quận 1 được ký hiệu mẫu m đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2334g, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Đinh Ngọc K khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Khanh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59E1-730.26 đến hẻm số 148 Bùi Viện, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 mua của 01 đối tượng nam (chưa rõ lai lịch) 02 gói heroine với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Khanh bỏ ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt giữ như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc; Biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; Kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Khanh, Khanh khai không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Quốc, Lê Anh Kế ghi vụ số 4726(1431)/24 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

Thu giữ của Đinh Ngọc K:

  • - 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 59E1-730.26 qua xác minh do ông Phạm Văn Đằng (là chú vợ của Khanh) là chủ sở hữu; ông Đằng khai cho Khanh mượn xe mô tô nhưng không biết Khanh sử dụng vào mục đích phạm tội.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 356938142199489 là tài sản cá nhân của bị cáo, không sử dụng vào mục đích phạm tội.

Tất cả các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng thuộc Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an Quận 1.

Tại bản Cáo trạng số 220/CT-VKSQ1 ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố và kết luận bị cáo Đinh Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Khanh được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đinh Ngọc K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam, đồng thời phạt bổ sung 5.000.000 đồng nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với vật chứng của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 14/4/2024, Khanh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 59E1-730.26 đến hẻm số 148 Bùi Viện, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 mua của 01 đối tượng nam (chưa rõ lai lịch) 02 gói heroine với giá 200.000 đồng.

Vào khoảng 09 giờ 05 phút ngày 14/4/2024 tại giao lộ Bùi Thị Xuân - Cách Mạng Tháng Tám, phường Bến Thành, Quận 1, Đinh Ngọc K có hành vi cất giữ 0,2334 gam Heroine để sử dụng cho bản thân, đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Khanh đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, là chất độc dược ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng cũng như là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, tệ nạn xã hội và xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân vẫn cố tình thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà pháp luật quy định đê áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, đồng thời nhằm mục đích răn đe bản thân bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần thiết phải áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 đồng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, nhận thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[7]. Đối với đối tượng bán ma túy cho Đinh Ngọc K, qua điều tra chưa xác định được lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Quốc, Lê Anh Kể ghi vụ số 4726(1431)/24 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét ma túy là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 356938142199489 đã qua sử dụng, xét là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  • 01 xe mô tô hiệu HONDA AIRBALDE, màu đen bạc, biển kiểm soát 59E1-730.26; số máy: JF63E1412507; số khung: RLHJF600FZ412490; Qua xác minh xe biển kiểm soát 59E1-730.26 là xe mô tô do ông Phạm Văn Đằng, sinh năm 1960 (là chú vợ của Khanh) là chủ sở hữu; ông Đằng khai cho Khanh mượn xe mô tô nhưng không biết Khanh sử dụng vào mục đích phạm tội; Khanh khai khi mượn xe của ông Đằng cũng không nói với ông Đằng về việc mượn xe đi đâu, làm gì. Do đó hoàn trả lại chiếc xe mô tô hiệu HONDA AIRBALDE, màu đen bạc, biển kiểm soát 59E1-730.26; số máy: JF63E1412507; số khung: RLHJF600FZ412490 cho ông Phạm Văn Đằng.

[9]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đinh Ngọc K phải chịu 200.000 đồng chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
  • Xử phạt Đinh Ngọc K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam 17/4/2024.

    Phạt bị cáo Đinh Ngọc K số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

  • - Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • + Tịch thu, tiêu hủy:
    • 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Thiếu tá Phan Tấn Quốc, Lê Anh Kế ghi vụ số 4726(1431)/24 bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

    • + Trả lại cho bị cáo Đinh Ngọc K 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số Imei: 356938142199489; Imei: 3564898421994686.
    • + Trả lại cho ông Phạm Văn Đ 01 xe mô tô hiệu HONDA AIRBALDE, màu đen bạc, biển kiểm soát 59E1-730.26; số máy: JF63E1412507; số khung: RLHJF600FZ412490.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1285/LNK-ĐCSMT ngày 27/8/2024 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

  • - Áp dụng Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Bị cáo Đinh Ngọc K phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thâm.

  • - Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự:
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  • - Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Bị cáo Đinh Ngọc K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn Đằng có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công an TP.HCM (PC 53 - Đ3);
  • - Tòa án nhân dân TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 1;
  • - Công an Quận 1;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1;
  • - Thi hành án hình sự Quận 1;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 221/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 221/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: DInh Ngoc K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger