Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH AN GIANG

Bản án: 221/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07 - 6 - 2024

V/v: “Tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Tấn Phước và ông Trương Văn Hăng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2024/QĐXXST-HN ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 290/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đào Chí S, sinh năm 1991; cư trú: Số nhà F, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang

- Bị đơn: Bà Hồ Thị Trúc P, sinh năm 1993; cư trú: Số nhà C, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Ông S có đơn xin xử vắng mặt, bà P vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Đào Chí S trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà P do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào năm 2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến đầu tháng 3/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, bà P không quan tâm đến ông và các con nên thường xuyên cự cãi, từ đó tình cảm vợ chồng không còn, không ai quan tâm đến ai cho đến cuối tháng 3/2023 thì ông và bà P sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân, gia đình hai bên cũng có hàn gắn tình cho cho vợ chồng ông, bà nhưng không thành. Do từ khi sống ly thân, bà P đi làm thuê, ông cũng ít gặp bà P nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đào Chí S yêu cầu ly hôn với bà Hồ Thị Trúc P.

Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Cháu Đào Thị Trúc M, sinh ngày 16/11/2012; 2/ Cháu Đào Thị Trúc L, sinh ngày 31/5/2020. Hiện cháu M và hiện đang sống cùng ông S còn cháu L đang sống cùng bà P. Sau khi ly hôn, ông S yêu cầu được nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu bà P cấp dưỡng nuôi con chung. Ông S đồng ý giao cháu L cho bà P trực tiếp nuôi, ông S không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án tiến hành phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì bà P vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản xác minh ngày 02/5/2024, người thân ông S cung cấp: Hôn nhân của ông S và bà P tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào năm 2012. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do ông S - bà P hay cự cãi, bà P bỏ về nhà mẹ ruột sống và không trở về cho đến nay. Mẹ bà P và cha mẹ ông S cũng nhiều lần khuyên ngăn và ông S cũng muốn hàn gắn nhưng bà P bỏ đi làm thuê, không về chung sống. Theo ông khả năng hàn gắn của hai người là không thể do ông S - bà P không ai quan tâm đến ai và từ khi sống ly thân, bà P cũng không về thăm cháu M; về con chung thì có 02 con chung, cháu lớn đang sống với ông S, còn cháu nhỏ sống chung với bà P; tài sản chung, nợ chung thì ông không biết.

Theo thông báo ngày 30/5/2024, ông Ngô Phi H – Phó Trưởng Công an xã P cung cấp: Hiện bà Hồ Thị Trúc P vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà: Ông S có đơn xin xét xử vắng mặt, bà P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt bà P theo thủ tục chung.

Hội đồng đồng xét xử đã công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa theo quy định.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông S, bà P có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông S theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông S, giao cháu M cho ông S được tiếp tục nuôi dạy, giao cháu L cho bà P được tiếp tục nuôi dạy.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông S không yêu cầu, bà P vắng mặt, Tòa án không ghi nhận ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Đào Chí S yêu cầu được ly hôn với bà Hồ Thị Trúc P. Bà P cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông S có đơn xin xét xử vắng mặt, bà P được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa ông S, bà P do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 10/8/2012 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của ông S xin ly hôn với bà P, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông S, bà P phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên đã sống ly thân từ cuối tháng 3/2023. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng bà P không có mặt để hàn gắn tình cảm, ông S cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình ông S, bà P nên yêu cầu ly hôn của ông S là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 02 con chung: 1/ Cháu Đào Thị Trúc M, sinh ngày 16/11/2012; 2/ Cháu Đào Thị Trúc L, sinh ngày 31/5/2020. Ông S xác định từ khi sống ly thân, cháu M sống chung với ông, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu M, tại biên bản ghi lời khai ngày 23/4/2024 cháu M có nguyện vọng được sống chung với ông S. Riêng cháu L đang sống chung với bà P, ông đồng ý giao cho bà P được trực tiếp nuôi dạy. Xét, để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển, điều kiện sống và học tập cũng như ổn định về tâm sinh lý của cháu M và L sau này được tốt. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu M cho ông S được trực tiếp nuôi dạy, giao cháu L cho bà P được trực tiếp nuôi dạy là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông S không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu M còn bà P vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà P về việc cấp dưỡng nuôi cháu L nên không đề cập xem xét, nếu bà P có yêu cầu về mức cấp dưỡng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông S xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Ông S phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đào Chí S.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Đào Chí S được ly hôn với bà Hồ Thị Trúc P.

Về con chung: Ông Đào Chí S được trực tiếp nuôi dạy 01 (một) con chung tên Đào Thị Trúc M, sinh ngày 16/11/2012. Bà Hồ Thị Trúc P được trực tiếp nuôi dạy 01 (một) con chung tên Đào Thị Trúc L, sinh ngày 31/5/2020. Ông S, bà P không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Ông Đào Chí S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà ông S đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009372 ngày 27/3/2024.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

5

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 221/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 221/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông S - bà H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger