TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 211/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-8-2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Hoàng Thị Thu Hiền |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Thục |
| Bà Lê Thị Minh Khánh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2024/QĐ-ST ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Chu Thị T, sinh 1998 (vắng mặt)
Nơi thường trú: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Số nhà H đường C, thị trấn H, huyện C, Đ, Đài Loan.
Chị T ủy quyền cho anh Trần Thanh M, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Địa chỉ: số A N, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh giao nhận tài liệu với Tòa án (văn bản ủy quyền xác nhận ngày 16/11/2023, không triệu tập).
- Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1995 (có mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai (có xác nhận của Văn phòng K tại Đ ngày 16/11/2023), nguyên đơn chị Chu Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Do quen biết, chị đăng ký kết hôn với anh Trần Văn L sinh năm 1995 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 cấp ngày 06/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Sau một thời gian chung sống đến nay mâu thuẫn giữa anh, chị bắt đầu nảy sinh, cách sống của hai bên không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân thường phát sinh tranh chấp, giằng co. Mặc dù đã nhiều lần ngồi lại để hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân nhưng hai bên vẫn bất đồng, không hòa thuận. Anh, chị đã ly thân khoảng 04 năm nay. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần giải phóng cho nhau để tránh những xung đột, mâu thuẫn, gây ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống sau này. Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn L.
Về con chung: Chị và anh L có 02 con chung là Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017, hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh L. Sau khi ly hôn chị đề nghị giao 02 con chung cho anh L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại đơn khởi kiện chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi anh L có yêu cầu chị phải cấp dưỡng nuôi con chung đến Tòa án thì chị T có văn bản đề nghị cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng/01 cháu.
Về tài sản chung, công nợ: chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị T trình bày: Do chị đang làm việc tại Đài Loan nên không thể về Việt Nam tham gia toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, nên chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang cho chị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, lấy lời khai, hòa giải và phiên họp, phiên công khai chứng cứ, phiên tòa. Chị ủy quyền cho anh Trần Thanh M, sinh năm 1988; Nơi thường trú: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Địa chỉ: số A N, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh giao nhận tài liệu với Tòa án.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/6/2024 bị đơn anh Trần Văn L trình bày: anh và chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 06/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn chị T về nhà anh làm dâu và chung sống hòa thuận. Năm 2018 chị T đi lao động tại Đài Loan, năm 2020 anh cũng sang Đài Loan lao động nhưng do công việc không phù hợp nên anh ở Đài Loan khoảng 01 tuần thì quay về Việt Nam làm việc. Trong thời gian sang Đài Loan anh có gặp chị T, vợ chồng vẫn tình cảm, hòa thuận. Anh về nước được khoảng 01 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng theo anh đó chỉ là những mâu thuẫn nhỏ nhặt không đến mức phải ly hôn. Những mâu thuẫn nhỏ nhặt theo anh là do vợ chồng xa nhau lâu ngày anh nghi ngờ chị T có người khác nên xảy ra ghen tuông, anh gọi điện chị T thường xuyên không nghe máy. Từ năm 2022 đến nay anh và chị T không còn liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Anh chủ động liên lạc với chị T nhiều lần nhưng chị T không nghe máy, chị T không chủ động gọi cho anh, nếu có gọi thì chỉ là nói chuyện với các con. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn chị T.
Về con chung: anh và chị T có 02 con chung là cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và cháu Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng anh. Chị T có gửi tiền về cho anh nhưng với mức 20.000.000 đồng/năm. Nếu Tòa án giải quyết cho anh, chị T ly hôn anh đề nghị giao con cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con ở mức 7.500.000 đồng/01 tháng/ 01 cháu.
Cháu Trần Thị Ngọc L1, Trần Ngọc S trình bày: Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng bố. Mẹ cháu hiện đang lao động nước ngoài, từ khi đi chưa về thăm các cháu, mẹ thi thoảng gọi điện hỏi thăm sức khỏe, các cháu được bố chăm sóc chu đáo. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu muốn sinh sống cùng bố.
Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Trần Văn L trình bày: Anh không đồng ý yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T, vì anh và chị T vẫn liên lạc, cách đây 01 tháng chị T có đơn xin ly hôn, anh không hiểu lý do gì mà chị T lại ly hôn, vợ chồng anh chị không có mâu thuẫn, do vợ chồng xa nhau nên không hiểu nhau, do chị T suy nghĩ bồng bột. Chị T có nói tháng 12/2024 hết hạn hợp đồng về nước. Anh đề nghị Tòa án xem xét cho anh và chị T có thời gian nói chuyện để vợ chồng đoàn tụ để nuôi con. Trường hợp phải ly hôn anh đề nghị giao hai con chung cho anh nuôi và đồng ý mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 cháu/01 tháng như ý kiến của chị T và thời gian cấp dưỡng từ tháng 8/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với nguyên đơn chị Chu Thị T vắng mặt và có trình bầy xin vắng mặt chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; đối với bị đơn anh Trần Văn L có mặt tại phiên tòa chấp hành hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị T;
Về hôn nhân: Chị Chu Thị T được ly hôn anh Trần Văn L
Về con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và cháu Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017 cho anh Trần Văn L là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Chu Thị T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Trần Văn L với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng/01 cháu. Hình thức cấp dưỡng là hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2024.
Chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của bị đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp: Chị Chu Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Trần Văn L và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Do vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị T hiện đang lao động tại Đài Loan có xác nhận của Văn phòng K tại Đ. Anh L là bị đơn có nơi thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Do vụ án có nguyên đơn là chị T ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Về hôn nhân: Chị Chu Thị T và anh Trần Văn L kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh L phát sinh mâu thuẫn, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Trần Văn L.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T với anh L, Hội đồng xét xử thấy: Anh L, chị T được tự do tìm hiểu đi đến hôn nhân. Sau kết hôn anh, chị chung sống hòa thuận một thời gian, năm 2018 chị T đi lao động nước ngoài, sau một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Theo chị T khai vợ chồng chị đã sống ly thân nhau 4 năm. Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/6/2024 anh L trình bày từ năm 2022 đến nay anh và chị T không còn liên lạc với nhau ai có cuộc sống riêng của người đó, anh có chủ động gọi điện thoại cho chị T nhiều lần nhưng chị T không nghe máy, anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa anh trình bầy chị T đi lao động nước ngoài từ năm 2018 đến nay chưa về nước lần nào, anh và chị T vẫn liên lạc và anh xác định vợ chồng không có mâu thuẫn anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi con. Nhưng anh không đưa ra được căn cứ chứng minh về việc xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị T, anh L không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau một thời gian dài làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T, xử cho chị T được ly hôn anh L là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[4]. Về con chung: Chị T và anh L có 02 con chung là cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và cháu Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017. Hiện nay các con chung đều đang sinh sống cùng anh L. Sau khi ly hôn chị T đề nghị giao 02 con chung cho anh L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng anh L đồng ý, cháu L1 và cháu S đều có nguyện vọng được ở cùng bố.
Xét yêu cầu giao hai con chung là cháu L1 và cháu S cho anh L nuôi sau ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: Chị T hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau ly hôn. Các con chung từ khi chị T đi nước ngoài vẫn do anh L chăm sóc, nuôi dưỡng, hiện vẫn đang sinh sống cùng anh L, các cháu phát triển ổn định cả về vật chất lẫn tinh thần. Mặt khác, các con chung trên 07 tuổi đều muốn sinh sống cùng bố nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. chấp nhận yêu cầu của chị T về việc giao hai con chung là cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và cháu Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017 cho anh L nuôi dưỡng sau ly hôn đến khi con chung đủ 18 là phù hợp điều kiện thực tế và nguyện vọng của hai cháu L1, cháu S cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn chị Chu Thị T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Trường hợp chị Chu Thị T có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung, thời gian cấp dưỡng và hình thức cấp dưỡng: tại bản tự khai ngày 28/6/2024 anh L yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung mức 7.500.000đồng/01 tháng/01 cháu. Chị T chỉ đồng ý cấp dưỡng mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/01 tháng/01 cháu. Tại phiên tòa anh L đồng ý với mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng mà chị T đưa ra. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận đề nghị của chị T. Buộc chị Chu Thị T cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh Trần Văn L với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/01 tháng/01 cháu. Phương thức cấp dưỡng theo tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi xét xử sơ thẩm là tháng 8/2024 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[6]. Về lãi suất chậm thi hành án: do chị T vắng mặt nên không thể thỏa thuận được. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự quyết định.
[7]. Về tài sản, công nợ: Do chị T, anh L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Chu Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[9]. Về án phí cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Chu Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
[10]. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, chị T đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, anh L có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 1, 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị T.
- Về hôn nhân: Chị Chu Thị T được ly hôn anh Trần Văn L.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017 cho anh Trần Văn L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, chị Chu Thị T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị T thực hiện quyền này.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Buộc chị Chu Thị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là cháu Trần Thị Ngọc L1, sinh ngày 24/6/2015 và cháu Trần Ngọc S, sinh ngày 02/3/2017 cùng anh Trần Văn L với mức cấp dưỡng là 2.000.000₫ (hai triệu đồng)/01 tháng/01 cháu. Phương thức cấp dưỡng theo tháng và thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2024 đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Chu Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001312 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Chị Chu Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo bản án: Chị Chu Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Trần Văn L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 211/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 211/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh L
