Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 221/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/7/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm
Bà Phạm Thị Thà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 244/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 189/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan;

- Bị đơn: Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1995,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người được chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1971, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

Chị H, anh Đ và bà T đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 02/3/2016. Sau khi kết hôn chị chuyển về nhà anh Đ sinh sống cùng gia đình nhà chồng, vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2017, do kinh tế gia đình khó khăn nên vợ chồng cùng sang Đài Loan lao động. Cùng làm việc tại Đài Loan nhưng anh chị không chung sống cùng nhau mà việc ai người đó làm, thỉnh thoảng có gặp gỡ vào ngày nghỉ. Do thời gian gắn bó ở nước ngoài ít nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đ.

- Về con chung: Chị và anh Đ có 01 con chung Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013, hiện nay cháu đều đang ở với gia đình chị. Ly hôn chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị. Hiện nay chị đang làm việc tại Đài Loan nên chị nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị T thay chị chăm sóc con chung cho đến khi chị về nước.

- Về tài sản, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bà Trần Thị L (là bác ruột của anh Trần Văn Đ) trình bày: Anh Đ hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, anh Đ vẫn thường xuyên liên lạc về cho bà. Anh Đ đã biết việc chị H có đơn xin ly hôn, anh Đ nhờ bà trình bày quan điểm của anh Đ với Tòa án: Anh Đ xác định vợ chồng anh Đ, chị H nảy sinh mâu thuẫn tại Đài Loan, vợ chồng đã không còn chung sống và quan tâm đến nhau. Anh Đ xác định nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị H. Về con chung, anh Đ xác định vợ chồng có 01 con chung là Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013, hiện nay đang ở với mẹ đẻ của chị H là bà Phạm Thị T. Anh Đ đồng ý để chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị H không yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con chung anh Đ nhất trí. Trong thời gian chị H đang lao động ở Đài Loan, chị H nhờ mẹ đẻ là bà Phạm Thị T chăm sóc con chung cho đến khi chị H về nước, anh đồng ý. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Đ đang làm việc ở nước ngoài nhờ bà nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án, bà nhất trí.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người được chị H ủy quyền giao nhận văn bản tố tụng là bà Phạm Thị T (là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị H): Chị H ủy quyền cho bà giao, nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án, bà đồng ý. Hiện nay con chung của vợ chồng chị H, anh Đ là Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013 đang ở cùng gia đình bà. Trong thời gian chị H đi làm xa, chị H nhờ bà chăm sóc con chung cho đến khi chị về nước, bà nhất trí.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị H đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Đ vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T có quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trần Văn Đ; Giao cho chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Tạm giao cháu H1 cho bà Phạm Thị T chăm sóc trong thời gian chị H ở nước ngoài. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Trần Văn Đ. Chị H, anh Đ hiện đang sinh sống và lao động tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh Đ cung cấp địa chỉ nhưng chị H không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh Đ có liên lạc về gia đình, gia đình anh Đ không cung cấp được địa chỉ của anh Đ tại Đài Loan. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; bà T có quan điểm xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh Đ và bà T.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Văn Đ tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương vào ngày 02/3/2016 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H và anh Đ sang Đài Loan làm việc nhưng không chung sống cùng nhau, mỗi người có công việc và cuộc sống riêng. Xét thấy vợ chồng đã không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, chị H xác định không còn tình cảm với anh Đ và có đơn xin ly hôn. Thông qua gia đình, anh Đ xác định nhất trí ly hôn. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị H, anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị H được ly hôn anh Đ là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị H, anh Đ có 01 con chung Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013, hiện đang ở cùng với gia đình chị H. Chị H, anh Đ đều thống nhất để chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn và anh Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho chị H. Xét thấy, cháu H1 đang có cuộc sống ổn định cùng với gia đình chị H, cháu H1 có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Do đó, chấp nhận thỏa thuận của vợ chồng giao cháu H1 cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu H1 cho bà Phạm Thị T là mẹ đẻ của chị H chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H đang làm việc ở nước ngoài.

Anh Trần Văn Đ được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trần Văn Đ.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Trần Minh H1, sinh ngày 12/12/2013 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Tạm giao cháu Trần Minh H1 cho bà Phạm Thị T chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam.

Anh Trần Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000590 ngày 10/4/2024 (bà T đã thay chị H nộp đủ án phí).

4. Về quyền kháng cáo: Chị H, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Bà T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà
  • (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 221/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 221/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H xin ly hôn Trần Văn Đ, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger