Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 221/2024/HSST
Ngày: 12 - 12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân
Thẩm phán: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Huy Viện
Bà Hoàng Thị Hường
Ông Nguyễn Hồ Cảnh

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Nhật Ánh, Kiểm sát viên.

Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm cong khai vụ án hình sự thụ lý số 201/2024/HSST ngày 19 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 251/2024/QĐXX ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo:

Cụt Thị M, T gọi khác: Không, Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 27 tháng 7 năm 1991 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Khơ Mú. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cụt Hoàng O (Chết) và bà Vi Thị X, sinh năm 1969; Anh chị em ruột: Có 03 người (Bị cáo là con thứ nhất); Chồng: Kha Văn D, sinh năm 1993; Con: 02 người, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An từ ngày 08/7/2024 đến ngày 09/12/2024. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt.

- Bị hại : Chị Cụt Thị K, sinh năm 2002; Địa chỉ: Bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cháu Cụt Thị K là người trong họ với chị Cụt Thị M1, sinh năm 1971, trú tại bản X, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do bố mẹ cháu K chết sớm không có nơi nương tựa, nên chị M1 đưa cháu K về sống với gia đình mình. Khoảng cuối năm 2014 (Không nhớ ngày, tháng cụ thể), anh trai ruột của chị M1 là ông Cụt Hoàng O, chồng bà Vi Thị X, sinh năm 1969, trú tại bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An ốm nặng, nên chị M1 đến nhà bà X để thăm anh trai. Khi đi, chị M1 đưa cháu K đi cùng. Khoảng 02 ngày sau thì chị M1 về lại nhà tại xã L, còn cháu Kim X1 ở lại nhà bà X chơi. Trong thời gian này, Cụt Thị M là con của bà X lấy chồng và sinh sống tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc gọi điện về để nhờ bà X sang chăm con cho M. Bà X nói với M là “Có cháu K là người trong họ hiện đang ở nhà bà X nhưng không có việc làm” nên M nói bà X đưa điện thoại cho cháu K rồi M nói với cháu K “Đi cùng bà X sang Trung Quốc để trông con cho M rồi M sẽ tìm việc làm cho” thì cháu K đồng ý. Vì vậy, M nói bà X khi nào đi sang Trung Quốc thì đưa cháu K đi cùng. Khoảng mấy ngày sau, bà X đưa cháu K về thành phố V rồi bắt xe khách đi ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, đi thuyền vượt biên bằng đường tiểu ngạch sang Trung Quốc thì được một người phụ nữ tên M2 (Không rõ lai lịch, đang sinh sống ở Trung Quốc) liên lạc rồi đưa bà X và cháu K đến nhà M ở tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Khoảng 10 ngày sau thì có 02 người ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc đến xem mặt và hỏi mua K về làm vợ. M nói với K là có người muốn mua K để làm vợ thì K nhất trí. Do đó, M đã trực tiếp bán cháu K cho họ với giá 60.000 Nhân dân Tệ (6 vạn tiền Trung Quốc) (tương đương 180.000.000 Việt Nam đồng). Người đàn ông mua K thỏa thuận: “trả trước 03 vạn Nhân dân Tệ, lúc nào cháu K ở được một năm thì mới đưa hết 3 vạn Nhân dân T1 còn lại” nên M đồng ý. Sau khi nhận tiền, M đưa lại cho người mua cháu K 01 vạn Nhân dân Tệ (tương đương khoảng 30.000.000 Việt Nam đồng) với mục đích "Nếu Công an T2 có hỏi thì không được khai ra việc mua cháu K từ M”. Khi cháu K về tỉnh Hà Nam, ở với người mua mình được khoảng gần 02 tháng thì Cháu K điện thoại cho M nói là muốn về Việt Nam. Do đó, M đã liên lạc với người đã mua cháu K để xin cho K về nhà thì người này đồng ý, nhưng yêu cầu M phải có trách nhiệm đưa K trở lại. Mùi thống nhất rồi trực tiếp đưa cháu Kim Q biên giới. Khi sang Việt Nam, cháu K đi xe khách về nhà Cụt Thị M1 tại bản X, xã L, huyện T và có nói lại với chị M1 là K sang Trung Quốc để giữ con cho M. Khoảng 10 ngày sau khi cháu K về Việt Nam thì M điện thoại nói với K là M đã nhận đủ 6 vạn Nhân dân T1 và nói cháu K sang Trung Quốc để M đưa tiền cho cháu K. Khoảng 2 tháng sau, cháu K liên lạc với M nói là sẽ sang lại Trung Quốc. Kim lại điện thoại và nhờ người phụ nữ tên M2 đưa K đến nhà M thì M2 cho M số điện thoại của một người đàn ông làm nghề phụ xe khách tuyến V - Quảng Ninh nên M điện thoại cho người này để nhờ đưa K sang Trung Quốc. Khoảng mấy ngày sau thì thấy cháu K đến nhà M tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. M điện thoại cho người đã mua cháu K đến đón cháu K về nhà. Khoảng 07 tháng sau, Kim bỏ trốn và cắt đứt liên lạc với M.

Năm 2016, M trở về Việt Nam lấy chồng và sinh sống tại bản Tân Sáng, xã N, huyện T.

Đối với cháu K: Sau khi bỏ trốn đã sinh sống tại Trung Quốc, đến tháng 6 năm 2024 mới trở về Việt Nam. Ngày 24/6/2024, cháu K đến trụ sở Công an huyện T, tỉnh Nghệ An tố giác hành vi phạm tội của Cụt Thị M.

Do cháu Cụt Thị K không có giấy chứng sinh, giấy khai sinh, không đăng ký hộ khẩu, không có Chứng minh nhân dân, thẻ căn cước, sổ hộ khẩu..., nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đã Trưng cầu V1 Bộ C để giám định tuổi.

Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 4797/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của V1, Bộ C kết luận: Căn cứ vào mức độ phát triển thể chất cơ thể, sự phát triển và cốt hóa của các xương tay, chân và khung chậu; mức độ hàn các đầu xương vào thân xương của các xương dài, khám các chuyên khoa và xét nghiệm, xác định độ tuổi của Cụt Thị K tại thời điểm giám định (tháng 6 năm 2024) là từ 22 năm đến 23 năm 6 tháng. Theo quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định tại khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06 ngày 21/12/2018 của VKSNDTC,TANDTC, BCA, BTP, BLĐTBX thì tại thời điểm bị Cụt Thị M bán (tháng 12 năm 2014) thì cháu Cụt Thị K mới 12 tuổi, 06 tháng.

Với nội dung trên, bản cáo trạng số 233/CT-VKSNA-P2, ngày 14/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Cụt Thị M về tội “Mua bán trẻ em” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 120, điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Cụt Thị M từ 10 (Mười) năm tù đến 11 (Mười một) nămtù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Cụt Thị K yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về danh dự, sức khỏe, nhân phẩm là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Bị cáo đã bồi thường đẩy đủ cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo nên đề nghị không truy thu tại bị cáo số tiền thu lợi bất chính từ việc bán bị hại.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về chứng cứ và tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, luật sư và bị hại không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Cụt Thị M thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Cụt Thị M lấy chồng và sinh sống tại tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. Khoảng cuối năm 2014 (Không nhớ ngày, tháng cụ thể), M điện thoại về Việt Nam rủ cháu Cụt Thị Kim S Trung Quốc để trông con cho M và hứa hẹn sẽ tìm việc làm cho cháu K. Tuy nhiên, khi cháu K sang Trung Quốc và ở tại nhà của M thì M đã trực tiếp bán cháu K cho người Trung Quốc lấy làm vợ với giá 06 vạn Nhân dân Tệ (Tương đương 180.000.000 Việt Nam đồng). Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 4797/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của V1, Bộ C kết luận: Căn cứ vào mức độ phát triển thể chất cơ thể, sự phát triển và cốt hóa của các xương tay, chân và khung chậu; mức độ hàn các đầu xương vào thân xương của các xương dài, khám các chuyên khoa và xét nghiệm, xác định độ tuổi của Cụt Thị K tại thời điểm giám định (tháng 6 năm 2024) là từ 22 năm đến 23 năm 6 tháng. Tại thời điểm bị Cụt Thị M bán (Tháng 12 năm 2014) thì cháu Cụt Thị K mới 12 tuổi 06 tháng. Như vậy, hành vi của bị cáo Cụt Thị M phạm vào tội “Mua bán trẻ em” với tình tiết “Để đưa ra nước ngoài” hành vi diễn ra vào năm 2014, tại thời điểm đó Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật nên vi phạm quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị Cụt Thị M là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng không những xâm phạm danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của trẻ em mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ lợi. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Tuy nhiên, cũng xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường tổn thất tinh thần theo yêu cầu của bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo - là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, p khoản 1 và 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai tại phiên tòa đều thể hiên bị cáo Cụt Thị M điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Số tiền 2 vạn NDT tương đương 60.000.000 đồng là tiền bị cáo Cụt Thị M thu lợi bất chính từ việc bán Cụt Thị K, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo nên không truy thu tại bị cáo số tiền thu lợi bất chính từ việc bán bị hại.

[7] Trách nhiệm dân sự: Cụt Thị K yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổn thất về danh dự, sức khỏe, nhân phẩm là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng. Bị cáo đã bồi thường đẩy đủ cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Trong vụ án, Trong vụ án này còn có: Bà Vi Thị X (Mẹ đẻ của Cụt Thị M) là người đưa Cụt Thị Kim đi Trung Quốc với mục đích là để Kim giữ con cho M. Bà X không bàn bạc, không biết việc M bán cháu K cho người Tương Quốc lấy làm vợ, cũng không được hưởng lợi ích gì. Cụt Thị M1 là người đưa cháu Cụt Thị K đến nhà Vi Thị X nhưng chỉ với mục đích là để thăm anh trai ruột của mình và là chồng của bà Vi Thị X đang bị ốm nặng, sau đó cháu K xin ở lại nhà bà X để chơi. Cụt Thị M1 không bàn bạc, không biết việc Cụt Thị X2 đưa cháu K đi Trung Quốc, sau đó bị Cụt Thị M bán cho người Trung Quốc lấy làm vợ, cũng không được hưởng lợi ích gì nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với Vi Thị X và Cụt Thị M1 là đúng quy định của pháp luật. Người phụ nữ có tên M2 và người đàn ông đi xe ca là những người được Cụt Thị M thuê đưa Cụt Thị Kim sang Trung Quốc. Do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên không có căn cứ để xử lý về Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép theo Điều 275 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

[9] Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 120, điểm p khoản 1, 2 điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Cụt Thị M 10 (Mười) năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Cụt Thị M.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

  3. Về án phí: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Cụt Thị M không phải chịu phí hình sự sơ thẩm.

  4. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

  5. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Người TGTT;
  • - UBND xã N, H. T;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 221/2024/HSST ngày 12/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An về mua bán trẻ em

  • Số bản án: 221/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trẻ em
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo Cụt Thị M 10 (M3) năm tù về tội “Mua bán trẻ em”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger