|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 221/2024/HS-PT |
|
|
Ngày: 17/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Huấn.
Các Thẩm phán:
- Ông Nguyễn Văn Hậu
- Ông Bùi Đức Nam
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Huy Phúc, thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thủy Tiên, kiểm sát viên.
Trong ngày 17/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số 131 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 193/2024/HS-PT ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3233/2024/QĐXXPT-HS ngày 17/6/2024, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án sơ thẩm số 185/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành N; sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi đăng ký thường trú, nơi cư trú: Số M Đường H, Khu phố H, phường L, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Ngọc L (chết) và bà Đặng Ánh T; chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: không;
Cấm đi khỏi nơi cư trú: 20/10/2023;
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đoàn Trí P, luật sư Văn phòng Luật sư N, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt;
Người liên quan đến kháng cáo:
Bị hại: Chị Nguyễn Phương Uyên Đ, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số 16 Đường 03, Khu phố 1, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị hại Nguyễn Phương Uyên Đ và bị cáo Nguyễn Thành N là bạn học của nhau. Vào ngày 31/3/2023, do cần tiền nên chị Đ nhắn tin cho N để hỏi xem có biết ai cho vay tiền không, chị Đ muốn vay 40.000.000đ. N nói sẽ nhờ một người anh cho chị Đ vay tiền không lấy lãi nhưng phải mất 6.000.000₫ phí cho vay. Chị Đ đồng ý và chuyển 6.000.000đ cho N bằng cách chuyển tiền vào tài khoản của bị cáo mở tại Ngân hàng ACB. Để tạo lòng tin với chị Đ, N đã tạo 01 tài khoản Facebook có tên “K”, rồi lập nhóm Group Facebook, thêm tài khoản Facebook “Nguyễn Đ” của chị Đ và tài khoản Facebook “Thành N” của N vào nhóm. N dùng tài khoản “K” và “Thành N” để trò chuyện trong nhóm và giả vờ rằng “K” sẽ cho chị Đ vay nhanh và không lấy lãi.
Ngày 01/4/2023, N dùng khoản “K” và “Thành N” nhắn tin trao đổi hỏi chị Đ cần vay tiền nữa không, thì chị Đ nói muốn vay thêm 30.000.000đ. N báo tiền phí vay tiền là 4.000.000đ, chị Đ đồng ý trong buổi trưa cùng ngày, chị Đ chuyển cho N 4.000.000₫ thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Sau đó, chị Đ yêu cầu N nói với bên cho vay chuyển 70.000.000đ cho Đ. N lại nói với chị Đ là vay thêm cho thuận lợi và hứa sẽ kết nối Đ với bên cho vay nhanh chóng, chị Đ đồng ý vay thêm 80.000.000đ, nâng số tiền vay lên 150.000.000đ. N báo cho chị Đ phí vay tiền là 13.000.000đ, chị Đ đồng ý nhưng chưa chuyển tiền ngay cho N mà nói chờ nói chuyện với bên cho vay. Thấy vậy, N lại tiếp tục tạo 01 tài khoản Zalo tên “B” để kết bạn với Đ, giả làm người cho vay liên lạc với chị Đ, hối thúc chị Đ chuyển phí vay tiền thì sẽ chuyển tiền cho chị Đ vay ngay. N mượn tài khoản ngân hàng của một người bạn là Bùi Gia Hoàng và bảo chị Đ chuyển 13.000.000đ vào tài khoản của anh Hoàng. Sau đó, theo yêu cầu của chị Đ, anh Nguyễn Quốc B (bạn trai của chị Đ) đã chuyển 13.000.000₫ và theo yêu cầu của chị Đ, anh B đã chuyển 13.000.000đ vào tài khoản số 0767310750 của anh Bùi Gia H mở tại Ngân hàng TMCP Quân đội. Sau đó, anh Hoàng chuyển số tiền vừa nêu đến tài khoản 6715867 của Nguyễn Thành N mở tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
Sau nhiều ngày không nhận được tiền vay, chị Đ liên tục nhắn tin với N qua tài khoản Facebook và tài khoản Zalo “B”, hối thúc chuyển tiền. Lúc này, N lại lấy lý do chị Đ đang có nợ xấu của ứng dụng cho vay và bảo chị Đ phải gửi thêm 9.000.000₫ để xoá nợ xấu. Chị Đ đồng ý. N lại tiếp tục dùng 01 tài khoản ngân hàng BIDV của người quen tên Đậu Thị Vân gửi cho Đ và bảo chị Đ chuyển tiền vào tài khoản này. Chị Đ chuyển khoản 3.000.000đ cho N (bằng cách vay tiền của bà Nguyễn Thị H và nhờ bà H chuyển tiền vào tài khoản của N mở tại Ngân hàng TMCP Á Châu) và đưa 3.000.000đ tiền mặt cho N. N nói với chị Đ rằng số tiền 3.000.000₫ còn lại thì N sẽ trả thay cho chị Đ. Sau khi nhận được tiền, bà V chuyển lại cho N trong thời gian cùng ngày.
Sau đó, chị Đ hối thúc N và tài khoản Zalo “B” chuyển 150.000.000đ cho chị Đ. N liên tục hứa hẹn, tránh né rồi khoá tài khoản Zalo “B”. Nghi ngờ bị N lừa đảo chiếm đoạt 29.000.000₫ mà chị Đ đã gửi cho N nên ngày 20/6/2023 chị Đ đã trình báo với Công an phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức.
Ngày 20/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành làm việc với N, N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu và cho biết đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của chị Đ vào đánh bạc trên mạng và tiêu xài cho cá nhân.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 9T 128G, màu xám đen (đã qua sử dụng). Đây là vật chứng của vụ án nên chuyển Toà xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Vào ngày 23/6/2023, bà Nguyễn Phương Uyên Đ đã nhận lại số tiền 29.000.000₫ do bà Đặng Ánh T (mẹ của bị cáo) tự nguyện bồi thường thay bị cáo (bl.191). Chị Đ đã làm đơn bãi nại, xin rút đơn tố cáo N.
Cáo trạng số 141/CT-VKSTP.TĐ ngày 14/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 185/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định như sau:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, còn tuyên xử lý vật chứng, quyền kháng cáo của bị cáo và bị hại.
Ngày 06/5/2024, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại; chị Đ có đơn bãi nại xin giảm nhẹ cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và bổ sung yêu cầu xin được hưởng án treo.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết kháng cáo như sau:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có trong vụ án đủ cơ sở để xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo đang trong độ tuổi lao động nhưng lười lao động và muốn có tiền tiêu xài nên đã phạm tội. Bị cáo biết bạn bè đang gặp khó khăn nhưng vẫn lừa gạt để chiếm đoạt tiền của bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào khác nên không có cơ sở để xem xét. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 185/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Luật sư Đoàn Trí P bào chữa cho bị cáo như sau:
Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng; chiếm đoạt của bị hại là 29.000.000₫ nhưng bị cáo đã tác động đến mẹ bị cáo để mẹ bị cáo bồi hoàn cho bị hại số tiền đã nêu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, h và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng khoản 5 Điều 3 Nghị quyết 02/2018 để xác định bị cáo phạm tội nhiều lần và không cho bị cáo được hưởng án treo. Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị quyết 01/2022 thì người phạm tội hai lần trở lên nhưng đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì đủ điều kiện để được hưởng án treo. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có việc làm và nơi cư trú ổn định, mẹ bị cáo đang bị bệnh nặng. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo thống nhất với ý kiến của luật sư P, không có ý kiến bào chữa bổ sung.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận như sau: Bị cáo đã 5 lần thực hiện hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền 29.000.000₫ của bị hại; lợi dụng lúc bị hại đang khó khăn để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại nên không thể cho là gây thiệt hại không lớn. Theo lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thì bị cáo khai đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại 29.000.000đ. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng tính chất, mức độ vi phạm, xét thấy cần giữ nguyên án sơ thẩm. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ thu thập được, có căn cứ để xác định rằng:
Bị cáo Nguyễn Thành N và chị Nguyễn Phương Uyên Đ là bạn học của nhau. Vào tháng 3/2023, biết được chị Đ có nhu cầu vay tiền nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Đ bằng cách nói dối với chị Đ rằng bị cáo có người quen cho vay tiền không lấy lãi nhưng phải mất tiền phí cho vay. Để làm cho chị Đ tin là thật, bị cáo đã tạo tài khoản Facebook giả có tên có tên là “K”, lập Group Facebook, đưa chị Đ vào tham gia làm thành viên của Group Facebook do N tạo ra; rồi sử dụng tài khoản Facebook của bị cáo và tài khoản “K” trao đổi với nhau trên Group Facebook đã đề cập, có nội dung “K” sẽ cho chị Đ vay nhanh và không lấy lãi. N còn tạo tài khoản Zalo có tên “B” để kết bạn và nhắn tin trao đổi với chị Đ (thông qua tài khoản Zalo của chị Đ), hối thúc chị Đ chuyển phí vay tiền. Vì tin là thật nên chị Đ đã nhiều lần giao tiền cho Đ với tổng số tiền giao cho Đ là 29.000.000đ, trong đó có 3.000.000đ tiền mặt, số còn lại chuyển qua các tài khoản do N chỉ định.
N đã sử dụng số tiền chiếm đoạt của chị Đ vào việc đánh bạc qua mạng và tiêu xài cho cá nhân.
[2].Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, gây mất an ninh trật tự, gây tâm lý hoài nghi lẫn nhau giữa người với người sống trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của minh là sai trái nhưng vì động cơ vụ lợi nên vẫn cố ý vi phạm.
[3]. Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
[4]. Về nội dung kháng cáo của bị cáo:
Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, nên cần áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, đã tác động đến mẹ bị cáo, mẹ bị cáo đã tự nguyện trả cho chị Đ 29.000.000đ; bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Do vậy, cần áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo đã dùng thủ đoạn tinh vi đó là tạo lập ra các các tài khoản giả trên các nền tảng xã hội, rồi sử dụng tài khoản giả, liên lạc trao đổi qua lại với nhau về việc cho vay tiền và cố tình để cho bị hại biết, hoặc là nhắn tin trao đổi trực tiếp với bị hại để làm cho bị hại tin rằng các thông tin mà bị cáo nói với bị hại là thật; mượn tài khoản của người quen để nhận tiền do bị hại chuyển đến nhằm tránh sự nghi ngờ của bị hại. Do vậy, nên cần phải áp dụng điểm m khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm đã không áp dụng là có thiếu sót.
Bị cáo đã lợi dụng trong lúc bị hại đang khó khăn để lừa đảo và đã chiếm đoạt của bị hại 29.000.000₫ nên không thể cho rằng bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; sử dụng tiền chiếm đoạt vào việc phi pháp (chơi đánh bạc).
Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ như đã đề cập nhưng cũng có 02 tình tiết tăng nặng. Do vậy, không có đủ căn cứ để xem xét cho hưởng án treo.
Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5]. Bị cáo phải chịu án theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành N, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 185/2024/HSST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g và m khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án
- Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Công Huấn |
7
Bản án số 221/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 221/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THÀNH NHÂN PHẠM TỘI "LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN"
