|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 221/2024/HS-ST
Ngày 25-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh
Thẩm phán: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hải
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt Ông Trần Ngọc Tân
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 201/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Đinh Công T, sinh ngày 01/01/1985, tại Ninh Bình. Nơi cư trú: 2 V, A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Chi nhánh Công ty TNHH H2 tại Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đinh Công K và bà Đinh Thị N; vợ là Đào Thị Thu H (đã ly hôn) có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú, bị tạm giữ ngày 21/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/5/2024., có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Công T: Ông Trần Ngọc Q - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Sỹ C và Cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH H2; địa chỉ: Số B T, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Hoàng Anh D, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A, ngách C N, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Đức K1, sinh năm 1986; địa chỉ: Số A Lô I T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Anh Khúc Đình C1, sinh năm 1975; địa chỉ: Số A tổ A xóm T, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1978; địa chỉ: Số A P, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Công T được bổ nhiệm làm Giám đốc Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn H2 tại Hải Phòng theo Quyết định bổ nhiệm số 2503/2020/QĐ-HBA ngày 25/3/2020 của Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty H2. Đinh Công T có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc tổ chức điều hành hoạt động của Chi nhánh Công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên công ty và theo pháp luật hiện hành; Được quyền ký kết các quyết định bổ nhiệm nhân sự, điều hành chi nhánh Công ty. Các quyền khác được quy định tại Điều lệ Công ty, theo quyết định của Hội đồng thành viên và theo quy định của pháp luật; Chịu trách nhiệm trước pháp luật và Hội đồng thành viên về mọi hoạt động của Công ty.
Trong quá trình điều hành Chi nhánh Công ty tại Hải Phòng, Đinh Công T được Công ty H2 giao nhiệm vụ quản lý, điều hành các phương tiện vận tải (xe ô tô đầu kéo, rơ-mooc), bốc xếp hàng hóa theo kế hoạch của Công ty. Khoảng tháng 2/2023, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Đinh Công T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty là các phương tiện vận tải đem đi cầm cố, thế chấp lấy tiền. T tìm gặp anh Bùi Đức K1, tại số A Lô I T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, lấy lý do vay tiền cho Công ty H2 mở rộng kinh doanh và để lại một số bộ hồ sơ của xe đầu kéo và rơ-moóc (gồm đăng kí và đăng kiểm xe) của công ty H2 Hoàng Bảo A cho anh K1 để làm tin, anh K1 đồng ý cho T vay số tiền là 400.000.000 đồng/01 bộ hồ sơ, không lãi suất. T đưa cho anh K1 tổng cộng 04 bộ hồ sơ xe đầu kéo Biển kiểm soát 35H-000.12, rơ-moóc 43R-032.73; xe đầu kéo BKS 35H-006.09, rơ-moóc 35R-009.64; xe đầu kéo 43C-166.21, rơ-moóc 43R-031.63 và xe đầu kéo 35H-000.02 (T không nhớ số rơ-moóc) và nhận từ K1 tổng số tiền là 1.600.000.000 đồng. Cuối tháng 5/2023, do xe ô tô đầu kéo 35H-000.02 kèm rơ-moóc đến hạn đăng kiểm nên T đã hỏi mượn lại anh K1 bộ hồ sơ đó để đi đăng kiểm nhưng sau khi đăng kiểm xong T không đưa lại bộ hồ sơ đó cho anh K1.
Đến khoảng tháng 4/2023, T gặp anh Khúc Đình C1, sinh năm 1975 trú tại: số A tổ A, xóm T, Đ, Ngô Q1, Hải Phòng hỏi vay tiền cho Công ty H2 để mở rộng kinh doanh, thế chấp xe ô tô đầu kéo và rơ-moóc để làm tin, anh C1 đồng ý và thỏa thuận cho T vay số tiền 500.000.000 đồng/01 xe ô tô đầu kéo kèm rơ-mooc không lãi suất. Từ tháng 4/2023 đến tháng 6/2023, T nhiều lần vay tiền của anh C1 với tổng số tiền vay là 3.000.000.000 đồng. Những lần vay tiền T đều tự điều khiển xe ô tô đầu kéo kèm rơ-mooc đến bãi xe Huy Thắng ở phường M, quận N, thành phố Hải Phòng giao xe cho anh C1 để làm tin. T đã giao cho anh C1 tổng cộng 06 xe ô tô đầu kéo kèm rơ-moóc và giấy tờ xe mang BKS: 43C-179.61, rơ-moóc 43R-034.31; xe 43C-208.19, rơ-moóc 43R-024.00; xe 43C-211.06, rơ-moóc 43R-023.74; xe 43C-210.46, rơ-moóc 43R-024.44; xe 43C-219.07, rơ-moóc 43R-025.54; xe 35C-083.46, rơ-moóc 35R-009.78. Khi vay tiền, T và anh C1 có viết giấy công nợ với nhau.
Khoảng tháng 6/2023, do nợ chị Bùi Thị Thu H1, sinh năm 1978, trú tại: số A P, V, Ngô Q1, Phòng số tiền 500.000.000 đồng từ trước nên T đã mang 01 xe bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, mang BKS: 35C-080.90 của Công ty H2 đưa cho chị H1 để đảm bảo số tiền nợ trên. Toàn bộ số tiền vay được, T chi tiêu cá nhân hết, không sử dụng vào việc đầu tư mở rộng kinh doanh của Công ty H2, rồi bỏ trốn.
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã Quyết định trưng cầu giám định 06 xe ô tô đầu kéo kèm rơ-mooc và 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger đã thu giữ. Tại Kết luận giám định số 705/KL-KTHS(SKM) ngày 05/7/2023 và số 706/KL-KTHS(SKM) ngày 06/7/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận:
“ Xe ô tô đầu kéo mang Biển kiểm soát 43C-179.61, rơ-moóc 43R-034.31; 43C-208.19, rơ-moóc 43R-024.00; 43C-211.06, rơ-moóc 43R-023.74;43C-210.46, rơ-moóc 43R-024.44; 43C-219.07, rơ-moóc 43R-025.54;35C-083.46 rơ-moóc 35R-009.78 và xe ô tô bán tải, nhãn hiệu FORD, mang Biển kiểm soát 35C-080.90 có Số khung; Số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa hoặc sửa chữa ký tự ” (Bút lục số 27-31).
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên Giấy xác nhận công nợ của Đinh Công T đã thu giữ được. Tại bản Kết luận giám định số 182/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “ Chữ ký, chữ viết mang tên Đinh Công T trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Đinh Công T trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do cùng một người ký, viết ra” .
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã Quyết định trưng cầu giám định các bộ giấy tờ (gồm Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, Chứng nhận đăng ký xe ô tô). Tại bản Kết luận giám định số 183/KL-KTHS ngày 21/8/2023 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: “Các bộ giấy tờ (gồm Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, Chứng nhận đăng ký xe ô tô) của các xe ô tô đầu kéo, kèm rơ-moóc do Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố H gửi giám định là thật”.
Tại Kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: “ Xe ô tô đầu kéo mang BKS 43C-179.61 có giá trị định giá là 507.300.000 đồng, R-moóc mang BKS 43R-034.31 có giá trị định giá là 251.000.000 đồng; Xe ô tô đầu kéo mang BKS 43C-208.19 có giá trị định giá là 584.300.000 đồng, R-moóc mang BKS 43R-024.00 có giá trị định giá là 206.700.000 đồng; Xe ô tô đầu kéo mang BKS 43C-211.06 có giá trị định giá là 602.400.000 đồng, R-moóc mang BKS 43R-023.74 có giá trị định giá là 206.700.000 đồng, Xe ô tô đầu kéo mang BKS 43C-210.46 có giá trị định giá là 590.200.000 đồng, R-moóc mang BKS 43R-024.44 có giá trị định giá là 206.700.000 đồng, Xe ô tô đầu kéo mang BKS 43C-219.07 có giá trị định giá là 602.400.000 đồng, R-moóc mang BKS 43R-025.54 có giá trị định giá là 206.700.000 đồng, Xe ô tô đầu kéo mang BKS 35C-083.46 có giá trị định giá là 497.000.000 đồng, R-moóc mang BKS 35R-009.78 có giá trị định giá là 160.100.000 đồng, Xe ô tô bán tải (PICKUP ca bin kép) nhãn hiệu Ford mang BKS: 35C-080.90 có giá trị định giá là 580.000.000 đồng”.
Ngày 21/5/2024, Đinh Công T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đầu thú. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H bị can Đinh Công T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Lời khai của bị can, phù hợp với lời khai đại diện bị hại, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thu thập được trong quá trình điều tra.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho Công ty H2: 06 xe ô tô đầu kéo kèm rơ-moóc, 01 xe ô tô bán tải mang BKS: 35C-080.90 (kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe) và 03 bộ hồ sơ xe ô tô đầu kéo và rơ-moóc. Công ty H2 đã nhận lại đủ và không còn yêu cầu gì khác.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị can Đinh Công T đã tác động gia đình trả cho anh Khúc Đình C1 số tiền 1.600.000.000 đồng; chị Bùi Thị Thu H1 số tiền 200.000.000 đồng. Anh C1 yêu cầu T trả tiếp tiếp 1.400.000.000 đồng; chị H1 yêu cầu T trả tiếp 300.000.000 đồng và anh Bùi Đức K1 yêu cầu T trả lại 1.600.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 206/CT-VKS-P3 ngày 01/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đinh Công T về tội Tham ô tài sản, quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thừa nhận số tài sản bị cáo chiếm đoạt của Công ty như nội dung cáo trạng là đúng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai nội dung như bị cáo khai nhận tại phiên toà, về trách nhiệm dân sự anh K1 và anh C1 yêu cầu bị cáo Đinh Công T phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt. Chị H1 có quan điểm số tiền còn lại giữa chị và bị cáo T tự thoả thuận giải quyết với nhau không yêu cầu Toà án quyết định trong bản án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
Sau khi phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Công T từ 15 đến 16 năm tù về tội Tham ô tài sản. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về dân sự: Buộc bị cáo Đinh Công T phải bồi thường đầy đủ cho anh K1 và anh C1 số tiền bị cáo còn nợ chưa bồi thường. Đối với số tiền của chị H1 hai bên tự giải quyết nên không xem xét.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo, nhất trí với Viện kiểm sát về tội danh điều luật truy tố, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xử bị cáo mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 03/2023 đến tháng 06/2023, Đinh Công T là Giám đốc Chi nhánh Công ty TNHH H2 tại Hải Phòng. Trong quá trình quản lý, điều hành Chi nhánh Công ty, Đinh Công T đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được Công ty TNHH H2 giao cho quản lý, điều hành các phương tiện vận tải của Công ty, chiếm đoạt 06 xe ô tô đầu kéo, kèm R-mooc và 01 xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger mang đi cầm cố. Tổng giá trị tài sản T chiếm đoạt là 5.201.500.000 đồng.
Như vậy hành vi của bị cáo Đinh Công T đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết định khung:
[3] Trị giá tài sản bị cáo Đinh Công T chiếm đoạt của Công ty là 5.201.500.000 đồng nên hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự. “Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên".
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh địa phương do vậy, cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản nhiều lần của Công ty nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Quan điểm bào chữa của Luật sư về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt: Căn cứ tính chất vụ án và mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ đã ly hôn, có 03 con nhỏ nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh C1, anh K1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền bị cáo đã chiếm đoạt xét yêu cầu của anh K1, anh C1 là chính đáng và hợp pháp nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường đầy đủ. Đối với khoản tiền của chị H1 tại phiên toà chị H1 có quan điểm tự thoả thuận giải quyết với bị cáo T, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có quyền kháng theo quy định của pháp luật.
[13] Các vấn đề khác: Đối với việc Đinh Công T đem 04 bộ hồ sơ, giấy tờ xe ô tô đầu kéo của Công ty H2 đi cầm cố cho anh Bùi Đức K1 lấy số tiền 1.600.000.000 đồng. Giấy tờ xe không phải là giấy tờ có giá, không được xác định là tài sản nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về hành vi này.
Đối với anh Bùi Đức K1, anh Khúc Đình C1 và chị Bùi Thị Thu H1 đã cho Đinh Công T vay tiền (không lãi suất), cầm 06 xe ô tô đầu kéo, 01 xe ô tô bán tải, 04 bộ giấy tờ xe T đưa để làm tin. Anh K1, anh C1 và chị H1 không biết việc T tự ý mang tài sản, tài liệu của công ty đi cầm cố vì mục đích cá nhân và đã tự nguyện giao nộp các tài sản, tài liệu trên cho Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra, do vậy chưa đủ căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội Tham ô tài sản, xử phạt Đinh Công T 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Đinh Công T bồi thường cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền như sau:
- Anh Bùi Đức K1 1.600.000.000 đồng (một tỷ sáu trăm triệu đồng).
- Anh Khúc Đình C1 1.400.000.000 đồng (một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đinh Công T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 92.000.000 đồng ( chín mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Tỉnh |
Bản án số 221/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 221/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 15 năm tù
