|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 221/2024/HS-ST Ngày 18-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hồng Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lý Thị Thiên Nga
- Bà Hà Thị Mão
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Trọng Kiên – Thư ký Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 209/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 545/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Thông báo số 594/TB-TA ngày 11 tháng 9 năm 2024 về việc thay đổi thời gian xét xử đối với bị cáo:
Tống Văn Đ, sinh ngày 20 tháng 02 năm 1965 tại Nam Định; nơi thường trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số D B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn V và bà Nguyễn Thị C; có vợ là bà Phạm Thị D và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 147/QĐ-UB(NC) ngày 20/01/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng (đã được xóa); Tại Quyết định số 03/2020/QĐ-TA ngày 17/01/2020, Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng (đã được xóa); tạm giữ từ ngày 13/3/2024, tạm giam từ ngày 16/3/2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1964, nơi cư trú: Số D B, phường H, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/3/2024, Tống Văn Đ điều khiển xe mô tô Honda Wana biển kiểm soát 16K9-2435 đến khu vực đường T, L, Hải Phòng gặp và hỏi mua ma túy Heroine của 01 người đàn ông không quen biết. Người đàn ông này đồng ý, bảo Đ đi theo, rồi điều kiển xe mô tô Honda Airblade của mình (Đ không nhớ số biển kiểm soát) đi đến khu vực ngõ D L, Ngô Q, Hải Phòng thì dừng lại. Đ đưa 200.000 đồng và người đàn ông chỉ Đ ra chỗ chậu cây trong ngõ lấy ma túy rồi điều khiển xe mất. Đ lấy từ dưới chậu cây 01 gói nilon chứa ma túy cất vào túi áo khoác trong bên trái, điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi Đ đi đến đầu ngõ D L thì bị Công an quận N phát hiện, bắt quả tang, thu giữ: 01 gói nilon kích thước khoảng 1,5x1,5 cm bên trong chứa chất bột màu trắng ở túi áo khoác trong bên trái của Đ và 01 xe mô tô Honda Wana BKS 16K9-2435.
Tại Kết luận giám định số 302/KL-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,13 gam, loại: Heroine.
Tại Cáo trạng số 220/CT-VKSNQ ngày 21 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố bị cáo Tống Văn Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 bên trong chứa 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bà Phạm Thị D 01 xe mô tô Honda Wana biển kiểm soát 16K9-2435.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà Viện Kiểm sát đề nghị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đồng ý với đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về xử lý chiếc xe máy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập vào hồi 17 giờ 45 phút ngày 13/3/2024, phù hợp với nội dung kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 13/3/2024, tại khu vực đầu ngõ D L, N, Hải Phòng, bị cáo Tống Văn Đ đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp 0,13 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
-
- Về hình phạt:
[3] Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền sự đã được xóa nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.
[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Tội phạm ma túy đang có diễn biễn phức tạp và chiều hướng gia tăng. Ma túy đã gây tác hại to lớn đối với con người và cộng đồng, là nguyên nhân làm mất trật tự, an toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh các tệ nạn xã hội, gia tăng các loại tội phạm nên hình phạt đối với tội phạm ma túy cần phải nghiêm khắc mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
- Về xử lý vật chứng:
[8] Số ma túy thu giữ của bị cáo sau khi giám định còn lại, liên quan đến tội phạm, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Đối với xe mô tô Honda Wana biển kiểm soát 16K9-2435, qua xác minh có số khung và số máy là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự, tên chủ xe là Phạm Công C1. Anh C1 mua xe và đăng ký xe vào năm 2004. Đến tháng 06/2012, anh C1 bán cho bà Phạm Thị D (vợ của Đ). Bà D dùng xe để đi lại hàng ngày, không biết việc Đ dùng xe đi mua ma túy nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả chiếc xe máy này cho bà Phạm Thị D.
-
- Về án phí:
[10] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
-
- Những vấn đề khác:
[11] Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tống Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tống Văn Đ 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 302MT/PC09 bên trong chứa 0,06 gam chất bột Heroine cùng toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
Trả lại cho bà Phạm Thị D 01 xe mô tô Honda Wana biển kiểm soát 16K9-2435.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 tại Chi Cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, bị cáo Tống Văn Đ phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hồng Phương |
Bản án số 221/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 221/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thụ lý 209
