|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 221/2024/HS-ST Ngày: 10 - 5 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Mai.
Bà Vương Thị Khánh Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Võ Hồng Toàn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024, thông báo số 42/2024/TB-TA ngày 24/4/2024, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh năm 1982, tại Nghệ An; nơi thường trú: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nơi ở: khu phố F, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1951; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03; vợ Võ Thị T2, sinh năm 1982, và có 02 con sinh năm 2003, 2015; tiền án, tiền sự: Không; ngày 30/10/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Cơ sở giam giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Văn H, sinh năm 1987, địa chỉ: D, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/7/2006, Trần Văn T và vợ là Võ Thị T2 nhận chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị Thu H1, ngụ tại khu phố A, phường T, thành phố B thửa đất số 7, tờ bản đồ số 44 thuộc tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B. Sau đó, T đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đ để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký Quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ ngày 04/10/2006.
Tháng 12/2017, T ký Hợp đồng thế chấp đất và tài sản trên đất đối với thửa đất trên cho ông Trần Hữu N là chủ tiệm cầm đồ “6769” ở khu phố D, phường T, thành phố B để vay 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng), T giao giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký Quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ cho ông N giữ.
Do làm ăn thua lỗ nên đến khoảng tháng 12/2018, T nảy sinh ý định làm giả giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ để mang đi thế chấp thửa đất cho người khác lấy tiền tiêu xài. T tự tìm hiểu trên mạng xã hội và thuê một người (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoàng Q1” làm giả 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó, T mang giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất giả số 676/VPĐK-QSDĐ đến gặp anh Lê Văn H, ngụ tại số G, khu phố I, phường T, thành phố B và thế chấp thửa đất số 7, tờ bản đồ số 44 thuộc tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B để vay 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Do không biết giấy biên nhận số 676/VPĐK-QSDĐ do T đưa là giả nên anh H đồng ý cho T vay tiền. Hai bên thỏa thuận là T và T2 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho anh H và khi T trả tiền thì anh H sẽ hủy giấy chuyển nhượng và trả lại giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ cho T.
Ngày 25/12/2018, T và T2 ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho anh H tại Văn phòng luật sư “Hoàng Đình B” (địa chỉ: số F, khu phố I, phường T, thành phố B) và T đưa cho anh H giữ giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất giả số 676/VPĐK-QSDĐ (Tuất không biết giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ T đưa cho anh H là do T thuê người làm giả).
Sau khi đến hạn mà không thấy T trả lại tiền nên ngày 20/01/2020 anh H đã chuyển nhượng lại thửa đất trên cho anh Nguyễn Đình T3, ngụ tại tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B.
Ngày 25/4/2020, T chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho anh Lê Văn H2, ngụ tại tổ A, Khu phố C, phường T và sau đó T đã đến gặp ông Trần Hữu N chuộc lại giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ thật để giao cho anh H2 rồi T bỏ trốn.
Đến ngày 27/4/2020, khi anh T3 đến nhận nhà và đất thì xảy ra tranh chấp với anh H2 nên đã báo cho anh H. Ngày 20/5/2020, anh H và anh T3 ký thỏa thuận hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nhà đất. Sau đó, anh H và anh H2 đã đến trình báo Công an phường T lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xác minh.
Ngày 22/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố bị can đối với Trần Văn T để điều tra, xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ do anh Lê Văn H2 giao nộp, kết quả xác minh là giấy thật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh H2.
- - 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ giả do anh Lê Văn H giao nộp (lưu trong hồ sơ vụ án).
Tại Bản Kết luận giám định số 2006/KLGĐ-PC09 ngày 31/8/2020 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận đối với giấy Biên nhận cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ do anh Lê Văn H giao nộp như sau: “một phần hình dấu tròn trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A1) với hình dấu tròn Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất- Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu nêu ở mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M5) không phải do cùng một con dấu đóng ra”.
Tại Cáo trạng số 169/CT-VKSBH ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:
Về trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức”, đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 (Sáu) đến 08 (T4) tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Văn H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào tháng 12/2018, Trần Văn T đã thuê 01 đối tượng (không rõ lai lịch) sử dụng tài khoản Zalo “Hoàng Q1” làm giả 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đ. Ngày 25/12/2018, T đã sử dụng giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ giả này thế chấp cho anh Lê Văn H để vay tiền và sau đó bị anh H phát hiện là tài liệu giả. Đến ngày 22/11/2023, Trần Văn T bị khởi tố để điều tra, xử lý.
Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt:
- - Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- - Ngày 30/10/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nên cần tổng hợp hình phạt của bản án trên.
[5] Vật chứng của vụ án:
- - 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ do anh Lê Văn H2 giao nộp, kết quả xác minh là giấy thật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho anh H2.
- - 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ giả do anh Lê Văn H giao nộp (lưu trong hồ sơ vụ án).
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Đối với Võ Thị T2 đã cùng Trần Văn T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Lê Văn H nhưng T2 không biết giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ do T thuê người làm giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không xử lý trách nhiệm hình sự.
[8] Đối với đối tượng sử dụng tài khoản Zalo “Hoàng Q1” đã làm giả 01 giấy Biên nhận hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất số 676/VPĐK-QSDĐ do thời hiệu điều tra đối với vụ án “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” đã hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra quyết định đình chỉ điều tra.
[9] Đối với việc Trần Văn T và Võ Thị T2 đã chuyển nhượng thửa đất số 7, tờ bản đồ số 44 thuộc tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B cho anh Lê Văn H và anh Lê Văn H2 có dấu hiệu “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ thụ lý và giải quyết trong một vụ việc khác.
[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của Cơ quan, tổ chức”.
Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm 04 (bốn) tháng tù của bản án số 178/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Trần Văn T phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2023.
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Học |
Bản án số 221/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 221/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức".
