Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 2209/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Tâm
  2. Bà Phan Thị Bé

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 3119/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số... /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2894/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1980.
  2. Địa chỉ: Số B đường A, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1978.
  4. Địa chỉ: Số B đường A, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 30/6/2023, Bản tự khai và lời khai trong quá trình hòa giải nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Bà và ông H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 1, ngày 06/12/2001. Ngay sau khi về chung sống chung thì cuộc sống chung của bà và ông H đã phát sinh mâu thuẫn nhưng từ năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng hơn. Nguyên nhân chính là do ông H hay uống bia rượu, say xỉn về đánh đập, chửi bới, xúc phạm bà. Bà N đã cố gắng chịu đựng duy trì cuộc sống hôn nhân với ông H vì các con còn nhỏ, bà cũng đã cố gắng khuyên can ông H nhằm hàn gắn gia đình nhưng ông H không thay đổi, khiến cho cuộc sống chung không còn hạnh phúc. Thực tế bà và ông H vẫn còn chung sống với nhau nhưng bà xác định bà không còn tình cảm, không còn yêu thương và không muốn gắn bó với ông H nữa mặc dù từ khi ông H biết bà nộp đơn yêu cầu ly hôn cho đến nay bà thấy ông H có nhiều thay đổi. Tuy nhiên, nay bà xác định bà không còn tình cảm với ông H nữa nên bà vẫn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phú H.

- Về con chung: Bà và ông H có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng Phúc T và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà N tự khai không có.

Bị đơn ông Nguyễn Phú H trình bày: Ông H xác nhận quá trình chung sống, kết hôn đúng như bà N trình bày. Cuộc sống hôn nhân giữa ông và bà N có phát sinh mâu thuẫn nhưng ông H cho rằng những mâu thuẫn đó không có lớn, do tính tình của ông nóng nảy, mỗi lần uống bia rượu vào ông không kìm chế được cảm xúc nên có đôi khi xúc phạm đến bà N. Ông H biết hành vi của mình là sai và mong muốn bà N cho ông cơ hội sửa sai để hàn gắn gia đình, cùng nhau nuôi dạy các con.

- Về con chung: Ông H xác nhận có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009. Ông không muốn ly hôn nên đối với con chung ông mong muốn cả hai vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc con chung nhưng nếu như buộc phải ly hôn thì ông H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009 và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con; trường hợp cháu T có nguyện vọng ở mẹ thì ông H sẽ đồng ý giao con bà N trực tiếp nuôi dưỡng và ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông Hòa t khai không có.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Phú H; Về con chung: Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung, Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên). Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung: Không có;

Bị đơn ông Nguyễn Phú H vắng mặt;

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Phú H; Về nuôi con chung: Người con Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên); giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phú H không cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: Không có; Án phí hôn nhân và gia đình 300.000 đồng bà N phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ lời khai của đương sự trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn là ông Nguyễn Phú H, cư trú tại: Số B đường A, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.

[2]. Về tố tụng: Ông Nguyễn Phú H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên toà mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Phú H.

[3]. Về yêu cầu của đương sự:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện bà N và ông H đã chung sống với nhau từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 1, ngày 06/12/2001 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Phú H là hợp pháp.

Quá trình tiến hành tố tụng, ông H có lời khai xác nhận ông H nóng tính, đi nhậu về không kiểm soát được bản thân nên đã có những lời lẽ xúc phạm bà N và mong bà N cho cơ hôi để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, bà khẳng định không còn tình cảm với ông H. Xét quá trình sống chung giữa hai bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, không còn sự tôn trọng nhau, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng hơn, giữa vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung thực sự không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Do đó, việc bà N yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông H là có cơ sở chấp nhận.

Về con nuôi chung: Người con Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên) nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người con Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Tại Biên bản hòa giải ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức ông H có ý kiến: Trường hợp bà H vẫn kiên quyết ly hôn thì ông cũng đồng ý giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con; Tại Tờ trình bày nguyện vọng đề ngày 28/02/2024 của cháu T thì cháu có nguyện vọng muốn được sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận: Giao người con chung tên Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Nguyên đơn, bị đơn tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều xác nhận không có nợ chung.

[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà N phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0005824 ngày 18/10/2023;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Phú H.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 1, ngày 06/12/2001 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận I (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Phú H và bà Trần Thị N không còn giá trị pháp lý.

  3. Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Tường V, sinh ngày 03/8/2002 (đã thành niên) và Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009. Giao người con Nguyễn Hoàng Phúc T, sinh ngày 17/6/2009 cho bà Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Phú H không cấp dưỡng nuôi con.
  4. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở. Nếu lợi dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  5. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  6. Nợ chung: Không có.

  7. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị N phải nộp án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0005824 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà N đã nộp đủ án phí.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày đương sự nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

- TAND TPHCM

- Chi cục THADS TP. Thủ Đức;

- VKSND TP. Thủ Đức;

- UBND nơi đăng ký kết hôn;

- Đương sự;

- Lưu: VT, hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị N1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 2209/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 2209/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: châp nhân yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger