Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 220/2024/HS-ST

Ngày: 30 – 8 – 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
  2. Ông Phan Hồng Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Giang, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Hữu H, sinh năm 1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 2 đường Đ, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông Phạm Văn E (đã chết) và bà Ngụy Thị H1 (đã chết); có vợ Nguyễn Thị Kim C (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 1994;

Tiền án: Bản án số 30/2023/HSST ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 31/01/2024.

Tiền sự: Không

Nhân thân: Bản án số 46/2011/HSST ngày 27/5/2011 của Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 01 tháng 16 ngày về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024 cho đến nay.

Bị hại: Ông Trịnh Văn C1, sinh năm 1968; địa chỉ: Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

1

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1961; địa chỉ thường trú: Số H T, khu phố F, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 28/3/2024, Phạm Hữu H điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Acruzo màu trắng biển số 59V2 – 589.98 đến Giáo xứ A thuộc khu phố B, phường A, thành phố T để đi lễ. Khi đi ngang qua phòng của ông Trịnh Văn C1 là Linh mục của Giáo xứ thì thấy cửa phòng đang khép, không có ai nên đã nảy sinh ý định tìm tài sản trộm cắp. Phạm Hữu H lén lút đi vào bên trong phòng lấy 02 bì thư trên bàn bên trong có 200.000 đồng, dưới bì thư có 1.000.000 đồng, bên trong ngăn kéo hộc bàn thấy có 01 ví tiền nên mở ra lấy số tiền 2.500.000 đồng, tổng cộng 3.700.000 đồng.

Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, ông C1 phát hiện bị mất trộm nên ngày 30/3/2024 đến Công an phường A trình báo sự việc và cung cấp đoạn camera ghi hình ảnh, qua xác minh, Công an phường A đã mời Phạm Hữu H đến làm việc, tại đây Phạm Hữu H đã đầu thú, khai nhận và giao nộp số tiền 300.000 đồng còn lại.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 300.000 đồng; 01 xe mô tô Yamaha Acruzo màu trắng, biển số 59V2 – 589.98; 01 (một) mũ bảo hiểm nửa đầu bằng nhựa màu trắng, viền đen có chữ Yamaha; 01 (một) mũ vải lưỡi trai, màu đen, có viền kẻ màu trắng ở lưỡi trai, có thêu chữ nike one màu trắng; 01 (một) áo khoác vải, màu xám, cú thêu chữ Biltmore mặt trong của áo; 01 (một) đôi dép da màu nâu, có quai hậu, có dòng chữ Tommy.

Bản Cáo trạng số 208/CT-VKS-TA ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phạm Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phạm Hữu H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
  • Bị cáo Phạm Hữu H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đông xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

2

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Phạm Hữu H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 08 giờ ngày 28/3/2024, tại Giáo xứ A thuộc khu phố B, phường A, thành phố T, bị cáo Phạm Hữu H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Trịnh Văn C1 số tiền 3.700.000. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng vì động cơ tư lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người khác trong việc quản lý rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp.

Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, tiếp tục cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 30/3/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/01/2024, chưa được xoá án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp tái phạm là tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú; quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền đã chiếm đoạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

3

Đối với 01 xe mô tô 01 xe mô tô Yamaha Acruzo màu trắng, biển số 59V2 – 589.98 là tài sản của bà Nguyễn Thị Kim C là vợ cũ (đã ly hôn) bị cáo đứng tên sở hữu. Bà C cho bị cáo mượn xe để đi công việc, không biết việc H sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà C.

Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo nộp lại là tài sản của ông Trịnh Văn C1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tiền trên cho ông C1.

Đối với 01 (một) mũ bảo hiểm nửa đầu bằng nhựa màu trắng, viền đen có chữ Yamaha; 01 (một) mũ vải lưỡi trai, màu đen, có viền kẻ màu trắng ở lưỡi trai, có thêu chữ nike one màu trắng; 01 (một) áo khoác vải, màu xám, cú thêu chữ Biltmore mặt trong của áo; 01 (một) đôi dép da màu nâu, có quai hậu, có dòng chữ Tommy là tài sản cá nhân của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bị cáo.

Bị hại có yêu cầu xét xử vắng mặt đồng thời xác định đã nhận lại đủ số tiền bị mất, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim C không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 3.400.000 đồng bà C đã bồi thường cho bị hại thay bị cáo nên không xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điều 136; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Phạm Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Phạm Hữu H 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024.

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hữu H phải chịu 200.000 đồng.
  2. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tố Uyên

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Công an, Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

5

Nguyễn Tố Uyên

TÒA ÁN NHÂN DÂNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ THUẬN AN

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ... giờ 00 phút ngày 30 tháng 8 năm 2024;

Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Tố Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
  2. Ông Phan Hồng Việt

6

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo: Phạm Hữu Hiếu, sinh năm 1965 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 278/5 đường Đống Đa 2, phường 2, Quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp đều hợp pháp.
  2. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Về Điều luật áp dụng:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Điều 136; Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

7

  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Về mức hình phạt:

Xử phạt bị cáo Phạm Hữu Hiếu từ 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2024.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

  1. Các vấn đề khác:
  • Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Hữu Hiếu phải chịu 200.000 đồng.
  • Về quyền kháng cáo: Của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo luật định.

Kết quả biểu quyết: 3/3 thành viên trong hội đồng thống nhất.

Nghị án kết thúc vào hồi ......... giờ ......... phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

8

Nguyễn Tố Uyên

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 220/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lén lút chiếm đoạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger