Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 220/2024/HS-ST

Ngày 30 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Từ Anh Tuấn.
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 218/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lưu Trọng K, sinh năm 1997 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Nhà trọ hẻm C, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lưu Văn H, sinh năm 1952 và bà Lê Thị T, sinh năm 1957; có 06 chị, em ruột, lớn nhất sinh năm 1977, nhỏ nhất là bị cáo; có vợ tên Phạm Thị Trúc L, sinh năm 1998; có 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại: Anh Lê Ngọc T1, sinh năm 1991 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp:

  1. Ông Lê Văn T2, sinh năm 1969 và bà Trần Thị B, sinh năm 1964; cùng thường trú: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Ông T2 và bà B ủy quyền cho chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989; thường trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Số C đường D, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

  1. Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989; thường trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Số C đường D, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH T7; trụ sở: Số F, đường F, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Anh T4, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ A, ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nông Văn T5, sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lưu Trọng K có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 05/12/2019, có giá trị đến ngày 05/12/2024. K là lái xe cho Công ty TNHH T7, địa chỉ: Số F, đường số F, khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 07/2023, có hợp đồng lao động. Tối ngày 27/10/2023, Công ty TNHH T7 phân công K điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, biển số 51C-453.23 từ Công ty chở hàng đi giao cho khách tại tỉnh Cà Mau rồi quay về, K một mình điều khiển xe đi giao hàng.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 28/10/2023, sau khi giao hàng xong, K điều khiển xe ô tô quay về, K không điều khiển xe về bãi xe của Công ty T7 mà điều khiển xe về đỗ sát lề phải đường hẻm thuộc Tổ C, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (theo hướng từ Cụm C ra đường ĐT743B, không có biển báo hiệu cấm dừng, cấm đỗ) rồi tắt máy mà không mở đèn tín hiệu, không đặt biển báo hiệu ở phía trước và phía sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết mà đi về phòng trọ ở đối diện nghỉ ngơi và ngủ. Đến khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, anh Lê Ngọc T1 điều khiển xe mô tô, biển số 43Y1-4747 lưu thông cùng chiều từ phía sau chạy lên không làm chủ tốc độ va chạm vào góc dưới, bên trái xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 dẫn đến tai nạn giao thông. Sau va chạm, anh T1 và xe mô tô ngã trượt trên mặt đường về phía trước, anh T1 tử vong tại hiện trường, xe mô tô, biển số 43Y1-4747 và xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 bị hư hỏng.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường vào ngày 29/10/2023 tại đường H, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thể hiện:

“1. Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn: Hiện trường là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, thảm nhựa cứng, không có chướng ngại vật, không có vạch sơn kẻ phân làn đường, mặt đường rộng 6,50m. Chiều đi bên phải có hướng đi từ Công ty K1 ra đường ĐT743B, chiều đi bên trái có hướng đi ngược lại.

2. Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  1. Xe ô tô tải, biển số 51C-453.23
  2. Vết cày xe mô tô, biển số 43Y1-4747
  3. Xe mô tô, biển số 43Y1-4747
  4. Vết chà người
  5. Vết máu.
  6. Nạn nhân
  7. Nón vải
  8. Dép 1
  9. Dép 2
  10. Trụ điện bê tông số 536

3. Xác định lề chuẩn, điểm mốc:

  • Lấy mép lề đường chiều đi bên trái, hướng từ đường ĐT743B ra Công ty K1 làm lề chuẩn.
  • Lấy trụ điện bê tông số 536 (10) làm điểm mốc.

4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

Xe ô tô tải biển số 51C-453.23, ký hiệu (1): Xe đỗ trên đường sát lề phải theo chiều đi (chiều từ Công ty K1 về đường ĐT743B), đầu xe hướng về đường ĐT743B, đuôi xe hướng về Công ty K1. Trục bánh xe trước bên phải cách lề phải 0,40m. Trục bánh xe sau bên phải cách lề phải 0,40 m. Trục bánh xe trước bên trái cách lề chuẩn 4,00 m. Trục bánh xe sau cách lề chuẩn 4,00 m – cách điểm mốc (10) là 6,30m.

Vết cày xe mô tô, biển số 43Y1-4747, ký hiệu (2): Có dạng đường thẳng, không liên tục, dài 7,40 m có chiều hướng từ Công ty K1 về đường ĐT743B. Đầu vết cày cách lề chuẩn 3,50 m – cách trục bánh sau bên trái xe ô tô (1) là 0,80 m cách góc bên trái đuôi xe ô tô (1) là 1,70 m.

Xe mô tô, biển số 43Y1-4747, ký hiệu (3): Sau tai nạn xe ngã bên trái. Đầu xe hướng về Công ty K1, đuôi xe hướng đường ĐT743B. Trục bánh xe trước cách lề chuẩn 1,90 m – cách trục bánh xe trước bên trái xe ô tô (1) là 2,70 m. Trục bánh xe sau cách lề chuẩn 1,20 m.

Vết chà người, ký hiệu (4): Để lại trên mặt đường, rộng 0,20 m – dài 1,60 m có chiều hướng từ Công ty K1 ra đường ĐT743B. Đầu vết chà cách lề chuẩn 2,80 m.

Vết máu, ký hiệu (5): Để lại trên mặt đường, không rõ hình dạng, KT(0,20 x 0,20)m. T6 cách lề chuẩn 2,30 m – cách đầu nạn nhân (6) là 0,90 m.

Nạn nhân, ký hiệu (6): Là nam giới đã tử vong, nằm ngửa trên mặt đường, dài 1,70m. Đầu hướng về đường ĐT743B, chân hướng về Công ty K1. Tay phải cách lề chuẩn 2,60m. Tay trái cách lề chuẩn 3,40m. Chân trái cách lề chuẩn 3,60m cách trục bánh xe sau bên trái xe ô tô (1) là 0,40m. Chân phải cách lề chuẩn 3,40m.

Nón vải, ký hiệu (7): Nằm trên đường, cách lề chuẩn 3,20m – cách trục bánh xe trước bên trái 0,70m – cách trục bánh xe trước xe mô tô (3) là 2,00m.

Dép 1, ký hiệu (8): Nằm trên đường, cách lề chuẩn 1,90m – cách đầu nạn nhân 1,00m.

Dép 2, ký hiệu (9): Nằm trên đường, cách lề chuẩn 1,60m – cách trục bánh xe trước xe mô tô (3) là 1,20m - cách chiếc dép 1 là 3,00m.

Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được (5):

Xe ô tô tải, biển số 51C-453.23. Xe mô tô, biển số 43Y1-4747.”

Căn cứ Kết luận giám định số 407/KL-KTHS(CH) ngày 16/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B về dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết và vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe mô tô, biển số 43Y1-4747 với xe ô tô tải, biển số 51C-453.23, như sau:

“1. Dấu vết va chạm giữa các phương tiện là: Các dấu vết trượt xước sơn màu đỏ, vỡ khuyết ốp nhựa tay lái bên phải và dấu vết trượt xước kim loại ở mặt trước, mặt trên tay phanh bên phải xe mô tô, biển số 43Y1-4747 có chiều từ trước về sau, từ trong ra ngoài (ảnh 3) phù hợp với các dấu vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), trượt xước kim loại ở mặt sau và mặt ngoài bên trái cạnh dọc góc sau bên trái thùng xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 có chiều từ trước về sau (ảnh 4).

2. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa 02 phương tiện là: Phần bên phải đầu xe mô tô, biển số 43Y1-4747 va chạm với cạnh trái sau thùng xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 (như mục 1 phần V) làm cho xe mô tô đổ ngã bên trái tạo nên dấu vết trên hai phương tiện.

3. Vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa hai phương tiện là: Khu vực đuôi xe bên trái xe ô tô trên sơ đồ hiện trường.

Căn cứ Kết luận giám định số 49/KL-KTHS(SCKT) ngày 07/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B về hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô tải, biển số 51C-453.23, như sau:

“Tại thời điểm giám định xe ô tô tải, biển số 51C-453.23, xác định:

  • + Hệ thống lái: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
  • + Hệ thống phanh: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.”

Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 871/KLGĐTT-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, về nguyên nhân tử vong của Lê Ngọc T1, như sau:

“1/ Các kết quả chính:

  • + Bên ngoài nhiều vết sây sát da, tụ máu.
  • + Tụ máu dưới da cơ vùng trán trái.
  • + Mô não không dập rách.
  • + Dập rãi rác hai phổi.
  • + Dập tụ máu cuống tim, vỡ tim vùng tiểu nhỉ phải

2/ Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.”

Căn cứ Kết luận giám định độc chất số 51/73-74/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 26/12/2023 của Phân viện pháp y Quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh đối với mẫu máu của bị hại Lê Ngọc T1, như sau: “Có tìm thấy E với hàm lượng 207.96mg/100ml. Không tìm thấy M và các chất ma túy.”

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành điều tra, xác minh, làm rõ nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do bị cáo Lưu Trọng K đỗ xe trên đoạn đường hẻm thuộc Tổ C, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương chiếm một phần đường rộng 2,64m, không đảm bảo khoảng cách từ bánh xe gần nhất đến lề đường, đỗ xe ở đoạn đường không có đèn đường nhưng không mở đèn tín hiệu cảnh báo và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết làm anh Lê Ngọc T1 điều khiển xe mô tô, biển số 43Y1-4747, có nồng độ Ethanol trong máu là 207.96mg/100ml. lưu thông cùng chiều từ phía sau chạy lên đã va chạm vào góc dưới, bên trái xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 dẫn đến tai nạn giao thông làm anh T1 tử vong.

Ngày 02/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Lưu Trọng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 của Bộ luật hình sự để điều tra cho đến nay.

Quá trình điều tra bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định pháp y tử thi số 871/KLGĐTT-KTHS ngày 10/11/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B và Biên bản khám nghiệm hiện trường.

Cáo trạng số 233/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lưu Trọng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lưu Trọng K từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, màu trắng, biển số 51C-453.23, số khung RLEN1R75LE7102371, số máy 4HK1252479 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định xe ô tô thuộc sở hữu của Công ty TNHH T7. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe cho Công ty TNHH T7.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, màu đỏ - đen – bạc, biển số 43Y1-4747, số khung RLHJC4302AY010241, số máy JC43E0811226 thu giữ trong vụ án, quá trình điều tra xác định xe mô tô do bị hại Lê Ngọc T1 mua lại để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại xe mô tô cho chị Nguyễn Thị T3 là người đại diện hợp pháp của bị hại.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lưu Trọng K tự nguyện hỗ trợ chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại tổng số tiền là 95.000.000 đồng. Gia đình bị hại đồng ý nhận số tiền hỗ trợ trên và không còn yêu cầu bồi thường, hỗ trợ gì khác nên không xem xét, giải quyết.
  • Đối với xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 và xe mô tô, biển số 43Y1-4747 bị hư hỏng do tai nạn, anh Trần Anh T4 là đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH T7 và chị Nguyễn Thị T3 là đại diện hợp pháp của bị hại T1 xin tự nhận xe về sửa chữa, không có yêu cầu bồi thường.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, do bị cáo và những người tham gia tố tụng vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự, kết luận giám định tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Lưu Trọng K có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Ngày 28/10/2023, Lưu Trọng K điều khiển xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 đỗ xe trên đoạn đường hẻm thuộc Tổ C, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương chiếm một phần đường rộng 2,64m, không đảm bảo khoảng cách từ bánh xe gần nhất đến lề đường, đỗ xe ở đoạn đường không có đèn đường nhưng không mở đèn tín hiệu cảnh báo và không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết làm anh Lê Ngọc T1 điều khiển xe mô tô, biển số 43Y1-4747 lưu thông cùng chiều từ phía sau chạy lên đã va chạm vào góc dưới, bên trái xe ô tô tải, biển số 51C-453.23 dẫn đến tai nạn giao thông làm anh T1 tử vong.

[3] Như vậy, hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại Điểm d khoản 3 Điều 18 và Khoản 1 Điều 19 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2018, năm 2019, lỗi chính gây tai nạn giao thông, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 233/CT-VKS-DA ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lưu Trọng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[4] Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe và tính mạng con người được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có lỗi khi điều khiển phương tiện giao thông mà trong người có nồng độ cồn là 207.96mg/100ml máu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và người lao động, đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Về hình phạt:

- Về hình phạt chính: Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kể từ khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lưu Trọng K đã thỏa thuận bồi thường cho đại diện gia đình bị hại. Đại diện gia đình bị hại đồng ý nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

[10] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp; đối với mức hình phạt đề nghị là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đa khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lưu Trọng K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Lưu Trọng K 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Lưu Trọng K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú: 69/2024/HSST-LCĐKNCC ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lưu Trọng K.

2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lưu Trọng K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (03);
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (05);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - THA hình sự (04);
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú (01);
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 10 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi .......giờ......phút, ngày 30 tháng 7 năm 2024.

Tại: Trụ sở TAND thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết N.

Các hội thẩm nhân dân:

1. .................................

2. .................................

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 218/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo Lưu Trọng K, sinh năm 1982.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
  2. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  3. Trong các giai đoạn tố tụng, những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử đánh giá hợp pháp.
  4. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  5. Về tội danh đối với bị cáo: Có căn cứ kết tội bị cáo Lưu Trọng K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  6. Kết biểu quyết: 3/3 thành viên.

  7. Về điều luật áp dụng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NĐ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
  8. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  9. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Trọng K.... (....) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là ... (....) năm............. tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  10. Trường hợp bị cáo Lưu Trọng K thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Hủy bỏ Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú: .../2024/HSST-QĐTĐBPNC ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Lưu Trọng K.

    Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  11. Bị cáo không thuộc trường hợp miến chấp trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
  12. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  13. Các vấn đề khác:
  14. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lưu Trọng K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  15. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  16. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

  17. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: Không có.
  18. Kết quả tán thành và biểu quyết: 3/3 thành viên.

Nghị án kết thúc hồi giờ phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

................................................

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 220/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger