TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 220/2024/HS-ST
Ngày: 28/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Chiếm
2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1086/2024/QĐXXST-HS ngày 23/7/2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đăng H, sinh năm: 1980, tại: Hà Nam; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: 573/2/20 đường T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Quản lý; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Nguyễn H1, sinh năm 1952; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1953;Vợ: Đặng Thị Kiều A, sinh năm 1982; bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
- Lưu Ngọc T, sinh năm: 1984, tại: Tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lưu Ngọc H2 (đã chết); Họ tên mẹ: Đỗ Thị B, sinh năm 1953; Có vợ là Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1987, bị cáo có 01 người con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không.
- Trần Đình K, sinh năm 1981, tại: Hưng Yên; Giới tính: Nam; Đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Đình T1, sinh năm 1949; Họ tên mẹ: Luyện Thị T2, sinh năm 1949; Có vợ là Lưu Thị L, sinh năm 1987, bị cáo 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Lê Anh T3; Sinh năm 1975 tại: Hải Dương; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A đường C, phường Q, Thành phố H, tỉnh Hải Dương: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Lê Văn T4, sinh năm 1946; Họ tên mẹ: Lê Thị B1, sinh năm 1948; Vợ con: chưa có; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến ngày 26/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến ngày 26/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến ngày 26/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Tiền án: Bản án số 90/2014/HSST ngày 29/4/2024 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên phạt 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 08/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành phần bồi thường dân sự, án phí có liên quan. (BL số 123-128).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023 đến ngày 26/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa: Ông Đặng Quang H3 là Luật sư của Công ty L1 thuộc đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo H, T, K, T3 (Có mặt)
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 24/12/2023, Nguyễn Đăng H và Trần Đình K đang ở tại bãi giữ xe Hằng H tại Nhà không số, tổ A, khu phố F, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (bãi xe do H làm quản lý) thì có Lưu N và Lê Anh T3 tới chơi uống nước. K nhìn thấy bộ “quân vị” trong bãi giữ xe, nên rủ mọi người chơi xóc đĩa thì H, T, T3 đồng ý, không ai đứng ra tổ chức, thu tiền xâu. K lấy 01 cái chén và 01 cái đĩa thường dùng để ăn cơm trong bãi giữ xe để chơi, quy định số tiền cược từ 100.000 đồng – 500.000 đồng mỗi ván, cược chẵn lẻ. H là người làm cái, bỏ 04 quân vị vào cái đĩa, úp cái bát lên trên để người chơi không nhìn thấy và dùng tay để lắc rồi đặt bát đĩa xuống cho người chơi đặt cược chẵn lẻ. Người làm cái sẽ mở bát, nếu 01 quân vị ngửa (trắng) 03 quân vị úp (đen) hoặc 01 quân vị úp, 03 quân vị ngửa thì gọi là lẻ, bên cược lẻ thắng. Nếu 02 quân vị úp, 02 quân vị ngửa thì là chẵn, bên cược chẵn thắng. Không ai đứng ra tổ chức, thu tiền xâu. Đến khoảng 14 giờ ngày 24/12/2023, bị Đội CSHS Công an Q cùng Công an phường H bắt quả tang, thu giữ số tiền tại chiếu bạc là 11.200.000 đồng; 04 quân vị; 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 cái mền dùng làm chiếu bạc.
Khi tham gia chơi sóc đĩa thắng thua bằng tiền thì H sử dụng số tiền 3.200.000 để đánh bạc, đã thua hết số tiền 900.000 đồng, khi bị quả tang thu giữ số tiền tại chiếu bạc của H là 2.300.000 đồng.
K mang sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc, đã thua hết 1.300.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của K là 2.700.000 đồng.
Thứ mang theo và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc, đã thắng được số tiền 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của T là 2.900.000 đồng.
T3 mang theo và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, đã thắng được 1.800.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của T3 là 3.300.000 đồng.
Vật chứng thu giữ gồm:
Số tiền: 11.200.000 đồng; 04 quân vị (được cắt từ lá bài tây); 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 cái mền bằng vải màu đỏ dùng làm chiếu bạc.
Bản cáo trạng số: 169/CT-VKS, ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Đăng H, Lê Anh T3, Trần Đình K, và Lưu Ngọc T về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H, Lưu Ngọc T5, Trần Đình K về tội “Đánh bạc” xử phạt từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Anh T3 từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 04 quân vị (được cắt từ lá bài tây); 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 cái mền bằng vải màu đỏ dùng làm chiếu bạc.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 11.200.000 đồng.
Người bào chữa cho các bị cáo: Thống nhất về tội danh và điều luật mà bản cáo trạng truy tố. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử xem cho các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trong giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa hôm nay bị cáo T6 có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã xác định. Các bị cáo không tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo có điều kiện chăm sóc cha mẹ già và con nhỏ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Đăng H, Lê Anh T3, Trần Đình K, và Lưu Ngọc T khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, bản tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 24/12/2023, tại phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Đăng H, Trần Đình K, Lưu Ngọc T và Lê Anh T3 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa thắng thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 11.200.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo có yếu tố đồng phạm, nhưng chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước, không ai tổ chức, thu tiền xâu. Khi tham gia chơi sóc đĩa thắng thua bằng tiền thì H sử dụng số tiền 3.200.000 để đánh bạc, đã thua hết số tiền 900.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền tại chiếu bạc của H là 2.300.000 đồng.
K mang sử dụng số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc, đã thua hết 1.300.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của K là 2.700.000 đồng.
Thứ mang theo và sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc, đã thắng được số tiền 400.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của T là 2.900.000 đồng.
T3 mang theo và sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, đã thắng được 1.800.000 đồng, khi bị bắt quả tang thu giữ số tiền dùng để đánh bạc tại chiếu bạc của T3 là 3.300.000 đồng.
Đối với Nguyễn Đăng H, Trần Đình K, Lưu Ngọc T hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần xét xử nghiêm. Tuy nhiên cũng cần xem xét cho các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s, khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với Lê Anh T3 đã mang theo số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc. Trước đó Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên phạt 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 90/2014/HSST ngày 29/4/2014. Nên lần này bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hính sự. Vì vậy cần xét xử nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Nhưng cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo là người sử dụng số tiền đánh bạc ít hơn các bị cáo khác; bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
- Về vật chứng của vụ án:
Cần tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng, gồm: 04 quân vị (được cắt từ lá bài tây); 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 cái mền bằng vải màu đỏ dùng làm chiếu bạc.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 11.200.000 đồng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H: 08 (T7) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đăng H cho Ủy ban nhân dân Phường A1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc T: 08 (T7) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lưu Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Trần Đình K: 08 (T7) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Đình K cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Xử phạt bị cáo Lê Anh T3 09 (chín ) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án. Nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/12/2023đến ngày 26/01/2024.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Đăng H, Lưu Ngọc T, Trần Đình K, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
Số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 11.200.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 04 quân vị (được cắt từ lá bài tây); 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng và 01 cái mền bằng vải màu đỏ dùng làm chiếu bạc.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 140/QĐ-VKS, ngày 20/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo cho bị cáo H, K1, T)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Thị Thùy Trang |
Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc
- Số bản án: 220/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
