Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2024/DS-PT

Ngày: 12-12-2024

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân

tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Mai Chăm – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 30/2023/TLPT-DS ngày 06 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 10 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa phúc thẩm số 154/2024/TB-TA ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Viết T, sinh năm 1977 và bà Đào Thị Thanh H, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: Nhà B, khu V, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh T1, sinh năm 1965; Địa chỉ: A - A Â, T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 28/12/2021 và 28/6/2022)

- Bị đơn: Bà Cao Thị Ngọc N, sinh năm 1969

Địa chỉ: Khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thanh H1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu phố H, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 02/3/2022).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Anh P, sinh năm 1966

2

và bà Lê Thị Thanh H1, sinh năm 1966. Cùng địa chỉ: Khu phố H, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Do có kháng cáo của: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P

Tại phiên toà, có mặt bà Đào Thị Thanh H, bà Phạm Thị Thanh T1, bà Lê Thị Thanh H1, ông Huỳnh Anh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/8/2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 9/12/2019 vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H có mua lại căn nhà của chị ruột ông T là Trần Thị Thanh T2 đã được chủ tịch UBND thành phố P cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 605932292400815 cho bà Trần Thị Thanh T2, như sau: Nhà ở: Diện tích sàn: 54,40 m²; cấp (hạng): 4; số tầng: 1 Kết cấu: Trụ gạch, tường gạch, mái tôn. Năm xây dựng: Trước năm 2002. Thời hạn được sở hữu: lâu dài; Đất ở: Thửa đất số: 54; Tờ bản đồ số: 30; Diện tích: 86,12 m². Địa chỉ lô đất: Lô B khu tập thể V, phường P, thành phố P. Theo đó diện tích đất theo sơ đồ đính kèm có chiều ngang phía trước và phía sau 4 m, chiều dài 21,53 m. Hợp đồng chuyển nhượng nhà và đất đã được Văn phòng C1 T, phường B thành phố P công chứng ngày 9/12/2019. Căn nhà trên diện tích đất 86,12 m này có nguồn gốc nhà thuộc Khu tập thể đoàn văn công tỉnh Bình Thuận được Nhà nước bán hóa giá cho cán bộ nhân viên của Đ và cán bộ làm ngành văn hóa tỉnh Bình Thuận; Nhà tập thể được xây dựng liền kề nhau và có vách chung nhà này tiếp giáp nhà kia; các nhà lô giữa đều có bề ngang đất bằng nhau là 4m, do vậy từng nhà sẽ có bề ngang đất lọt lòng bên trong là 3,9 m cộng với 10cm tường chung của 2 bên sẽ là 4 m. Khi vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H mua nhà của chị T2 thì hiện trạng có căn nhà theo sổ được cấp diện tích 54,4 m² và phần chái nhà tự xây dựng tạm phía sau (phần này chưa được cấp sổ mà chỉ xây dựng trái phép, cơi nới mở rộng diện tích trong quá trình sử dụng). Sau khi mua nhà vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H tiếp tục sử dụng hiện trạng nhà cũ. Vào năm 2020 gia đình bà N có sửa lại nhà trong đó xây dựng vách của bà N chồng lên vách nhà chung giữa 2 bên (phần vách chung phía trước giữa 02 gia đình) mà không hề thương lượng với gia đình vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H, sau đã nhiều lần trao đổi nhắn tin phản đối nhưng phía gia đình bà N không chấp nhận mà vẫn ngang nhiên xây dựng lấn chiếm trên phần vách chung phía trước và lấn chiếm thêm 1 phần phía sau. Vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H tranh chấp qua lại nhưng gia đình bà N một mực cho rằng xây dựng không lấn chiếm mà chỉ xây dựng lại trên nền nhà cũ đã tồn tại lâu dài trước đây (Có gửi kèm theo các bản sao tin nhắn từ điện thoại di động). Ngày 8/7/2021, vợ chồng ông T có nhu cầu xây dựng nhà lại để đưa mẹ già 83 tuổi về ở chung nên đã làm thủ tục xin phép xây dựng và được UBND thành

3

phố P cấp giấy phép xây dựng nhà số 474/GPXD ngày 08/7/2021, với diện tích xây dựng 76,92 m² trên thửa đất số: 54; Tờ bản đồ số: 30; Diện tích: 86,12 m². Khi tiến hành san mặt bằng để xây dựng nhà mới vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H phát hiện thêm cụ thể phần nhà xây dựng kiên cố của bà N ở phía sau đã xây dựng cong lên chiếm phần đất phía sau nhà của hai ông bà: theo đo đạc trong quá trong quá trình hòa giải tranh chấp đất đai ở phường thì chiều dài 8,35 m, chiều rộng hai đầu 15 cm và phần giữa có điểm lấn sang nhà phía sau nhà tôi (tính phủ bì của ½ tường chung) hẹp lại chỉ còn bề ngang 3,85 m, phần ở giữa nhiều điểm chỉ còn 3,75 m (có sơ đồ đất đính kèm). Nay có gắn tọa độ của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường tỉnh B diện tích đất lấn chiếm phía sau cong hẳn sang phía đất nhà vợ chồng ông T là 1,2 m² có các cạnh cụ thể được thể hiện qua phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất gửi kèm theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) ngày 10/6/2022.

Vợ chồng ông T đã liên hệ với gia đình bà N để thỏa thuận việc sử dụng đất cho thẳng lại giữa hai bên nhưng gia đình bà N không hợp tác. Người đang quản lý nhà là ông Huỳnh Anh P không có tiếng nói chung, không thể thỏa thuận được, sự việc tranh chấp tới UBND phường P. Tại buổi hòa giải làm việc của UBND phường vào ngày 21/7/2021 đã thể hiện việc ông Tình yêu C bà N trả lại hiện trạng đất theo sổ, xây lại vách nhà phía sau cho thằng, lấy vách chung phía trước của 02 gia đình làm chuẩn; ông T với bà N đồng ý thương lượng nhưng ông P (người mua lại nhà Bà N năm 2019 theo thỏa thuận riêng giữa Bà N và Ông P bằng giấy tay chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng nhà và đất ở theo quy định của pháp luật) không chấp thuận vì ông P cho rằng mình có mua lại nhà của bà N vào năm 2020, xây nhà lại trên hiện trạng cũ của nhà bà N thì có tranh chấp, ông không đồng ý yêu cầu của ông T vì cho rằng không lấn chiếm và chỉ xây dựng trên hiện trạng nhà cũ (có kèm theo biên bản làm việc, biên bản xác định hiện trạng hai nhà của UBND phường P lập và bản ảnh hiện trạng). Việc hòa giải không thành UB phường P đề nghị các bên gửi đơn đến cấp có thẩm quyền giải quyết.

Phía gia đình bà N ông P cho rằng xây dựng trên hiện trạng cũ là không đúng vì các lý do sau đây:

  • - Nhà nước cấp đất là cấp theo đường thẳng, không cấp theo đường cong.
  • - Phần đất được cấp phía sau là chỉ công nhận đất không công nhận phần nhà xây dựng trên đó. Nên khi xây dựng nhà thì phải xây dựng đúng vị trí diện tích đất được cấp. Hơn nữa việc xây dựng nhà của bà N trên phần đất phía sau là trái phép không có giấy phép xây dựng của cơ quan có thẩm quyền.
  • - Khi gia đình bà N xây dựng mới căn nhà phía sau gia đình ông T đã có ý kiến phản đối nhưng phía bà N vẫn bất chấp tiếp tục xây dựng.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có các yêu cầu sau đối với bị đơn: Buộc bị đơn bà Cao Thị Ngọc N và ông Huỳnh Anh P trả lại diện tích đất lấn chiếm của vợ chồng ông Trần Viết T và bà Đào Thị Thanh H là

4

1,2m² có các cạnh cụ thể được thể hiện qua kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất gửi kèm theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) ngày 10/6/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B. Buộc bà Cao Thị Ngọc N và ông Huỳnh Anh P phải tháo dỡ tài sản trên phần diện tích đất đã lấn chiếm trên trả lại đất cho vợ chồng ông T, bà H.

Bà Lê Thị Thanh H1 là người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn tại cấp sơ thẩm trình bày:

Trước năm 1995, do là cán bộ ngành văn hóa thông tin nên ông Nguyễn Thành N1 được nhà nước cấp để ở một gian nhà cấp 4 trong khu nhà tập thể có vách chung (B7-Khu tập thể văn công phường P, thành phố P). Năm 1995 bà N về làm dâu gia đình ông Nguyễn Thành N1 và ở chung với gia đình nhà chồng tại nhà B7. Khi đó phía sau khu nhà tập thể này là một khu đất trống bỏ hoang nên lần lượt các hộ gia đình trong khu tập thể này tự phát cơi nới ra phía sau để nhà ở thêm rộng rãi. Đầu năm 1996, bố chồng bà N tiến hành cơi nới, xây nối dài căn nhà đang ở ra phía sau trên nền đất trống đó để mở rộng không gian sinh hoạt cho cả gia đình và hoàn thiện thành ngôi nhà cấp 4. Cũng trong năm này ông N1 được nhà nước bán hóa giá căn nhà, trả tiền làm nhiều đợt, đến năm 2004 thì trả xong và được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ hồng) - số giấy chứng nhận số 460104 cấp ngày 24/8/2004. Khi bà N về ở nhà B thì cô Trần Thị Thanh T2, cán bộ ngành văn hóa thông tin, cũng được nhà nước cấp gian nhà liền kề với gian nhà ông N1 (B8). Sau đó vài năm sau thì cô T2 cũng xây cơi nới ra khoảng đất phía sau, với phần vách nhà xây cơi nới áp sát vách nhà ông N1 và hình thành nên căn nhà cấp 4 (nhà B8).

Tháng 11/2004 thì ông N1 cho vợ chồng bà N ngôi nhà này và đã chuyển tên chủ quyền sang cho vợ chồng bà N (ông Nguyễn Thanh N2 và bà Cao Thị Ngọc N). Vợ chồng bà N vẫn sống trong căn nhà này. Tháng 1/2006 vợ chồng bà ly hôn, chồng bà N ra ở riêng, bà N và con trai vẫn ở trong căn nhà này. Đến tháng 3/2016 ngôi nhà được chính thức sang tên cho bà Cao Thị Ngọc N. Trong suốt thời gian dài về ở nhà B7 (từ 1995 đến tháng 9/2019), bà N không tác động đến ngôi nhà (không tham gia xây cơi nới, không tu bổ, sửa chữa) mà vẫn giữ nguyên trạng căn nhà như khi ông N1 xây dựng năm 1996. Suốt thời gian 23 năm đó, gia đình bà N và bản thân bà chưa bao giờ nghe cô T2 hay anh Trần Văn T3 (em ruột cô T2) nói về việc lấn chiếm đất đai của họ và cũng không có tranh chấp gì về đất đai giữa hai gia đình.

Tháng 9/2019 bà N bán căn nhà trên cho ông Huỳnh Anh P (nhưng chưa tiến hành làm thủ tục sang tên vì lúc đó mẹ bà bệnh nặng nên phải về quê Cần Thơ để chăm sóc, tiếp đó là dịch bệnh bùng phát kéo dài). Sau khi bán nhà một thời gian thì bà N nhận được điện thoại của anh T3 (người mua lại nhà cô T2) nói là “sửa nhà coi chừng lấn đất” nhà anh ta. Bà N trả lời là “chị đã bán nhà cho anh P, em bước sang gặp anh P nói chuyện cụ thể”. Sau này được biết anh T3 không gặp ông P để nói chuyện.

5

Đến tháng 7/2021 bà N được UBND phường P mời họp về việc lấn chiếm đất nhà ông T3 (do ông T3 gửi đơn khiếu nại) và qua cuộc hòa giải tại UBND phường bà N mới biết căn nhà (B7) mà bà bán cho ông P có diện tích không đủ so với diện tích được cấp trong sổ hồng, có chỗ thiếu chiều ngang tới 22cm. Vì vậy việc anh T3 nói bà N lấn chiếm đất của anh ta là không thể vì:

  • - Cô N không lấn chiếm, vì nhà do ông N1 xây, có sự chứng kiến của các chủ hộ lân cận (cô T2) và không có tranh chấp, khiếu kiện suốt thời gian ông N1 và cô N ở đó, đồng thời nhà đã được nhà nước cấp chủ quyền theo quy định.
  • - Căn nhà đã xây dựng một lần từ năm 1996 cho đến nay không thay đổi diện tích (Vách tường nhà cô T2 đã xây áp sát vách ông N1 từ hơn 20 năm).
  • - Diện tích đất ở thực tế của nhà B7 cũng thiếu so với diện tích được cấp trong sổ hồng. Với các lý do trên tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xem xét, xử lý phù hợp. Nay, nguyên đơn khởi kiện, tôi không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P trình bày:

Do có nhu cầu nhà ở cho các con nên tháng 9/2019 tôi mua căn nhà mua nhà của bà Cao Thị Ngọc N (nhà B – khu tập thể văn công), đây là căn hộ tập thể cấp 4 xây liền kề, ngoài phần trước có vách chung thì phần sau căn nhà (phần cơi nới của chủ cũ) có vách trái áp sát vách nhà B6 và vách phải áp sát vách nhà B (nhà cô T2, anh T3), lúc tôi mua căn nhà đã xuống cấp, mái nhà thấp, nền nhà ẩm, vách nhà nhiều nơi bong tróc xi măng, nên vào tháng 10/2019 tôi đã tiến hành sửa chữa, tu bộ đơn giản (không đúc mê, đổ trụ, không thay đổi kết cấu, không mở rộng diện tích). Cụ thể là tô trát lại vách nhà, ốp gạch chống thấm; đôn nền, lót gạch để bớt ẩm thấp và đôn tường, nâng mái tôn. Việc sửa chữa diễn ra công khai trước sự chứng kiến của anh anh T3 và hàng xóm trong hơn hai tháng, nên không thể nói là anh T3 không biết. Việc anh T3 nói tôi sửa nhà mà không thương lượng với anh ta là không đúng, vì khi tôi cho cửa hàng hiên phía trước thì anh T3 nói với những người thợ xây là anh T3 muốn tôi (P) nhường cho anh ta sử dụng toàn bộ phần đất chung dùng làm vách ngăn cách hàng hiên. Sau khi nghe phản ảnh, tôi đã thể hiện thiện chí và cho xây tường mái hiên tách riêng vào bên đất của tôi, nhường hẳn cho anh ta bức tường dài 2,1 mét, rộng 10 cm (có 5cm nhà tôi), nên hiện tại chiều ngang mặt trước nhà tôi giảm (còn 3,95 mét) và nhà anh T3 có chiều ngang mặt trước tăng thêm 5cm. Đối với phần tường chung trong nhà thì tôi chỉ dùng tôn phủ tạm lên gạch tường để chống thấm, nếu anh T3 có nhu cầu sử dụng tường thì tôi cuốn phần tôn đó lại. Ngoài ra trong suốt quá trình sửa chữa nhà hơn hai tháng, tôi không nghe cô T2, anh T3 có ý kiến gì thêm và cũng không có đơn thư khiếu nại, tố cáo về việc tôi lấn chiếm đất nhà cô T2, anh T3 tới chính quyền địa phương. Đến cuối năm 2019 thì nhà tôi sửa xong và các con tôi về ở bình thường, tình chòm xóm vẫn tốt đẹp, không có chuyện gì xảy ra.

6

Mãi đến tháng 7/2021 tôi bất ngờ nhận được giấy mời của UBND phường P mời dự phiên hòa giải về việc lấn chiếm đất nhà anh T3 và đến lúc đó tôi cũng mới biết nhà tôi mua lại của bà N cũng có diện tích không đúng với Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ hồng) do nhà nước cấp cho ông Nguyễn Thành N1 (bố chồng cô N) vào năm 2004, cụ thể như sau:

  • * Ở phần cơi nới: Theo sổ hồng cấp năm 2004, toàn bộ chiều ngang phần cơi nới bằng với phần nhà chính và đều là 4 mét, nhưng thực tế số đo chiều ngang các đoạn trong nhà tôi hiện tại khác nhau:
    • + Đoạn nối với nhà nhà cũ (có vách chung) chiều ngang là 3,9m (thiếu 10 cm so với sổ hồng).
    • + Đoạn giữa là 3,86m (thiếu 14 cm so với sổ hông).
    • + Đoạn cuối là 3,78m (thiếu 22 cm so với sổ hồng).
  • - Sau đó tôi có gặp bà N để hỏi cụ thể về lại lịch căn nhà thì được bà N cho biết: Ngôi nhà này được bố chồng bà N (ông Nguyễn Thành N1) tự xây dựng cơi nới vào năm 1996, 8 năm sau thì được nhà nước cấp sổ hồng ông N1 đứng tên chủ quyền). Sau đó ông N1 cho vợ chồng bà N, đến 2006 vợ chồng bà N ly hôn, sau khi thương lượng chia tài sản thì bà N được tiếp tục ở nhà này và chính thức chuyển quyền tên sở hữu cho bà N vào năm 2016. Bà N cho biết suốt thời gian dài từ khi về ở nhà B cho đến khi bán lại cho tôi (từ 1995 đến tháng 9/2019), bà N hoàn toàn không tác động đến ngôi nhà (không tham gia xây cơi nới; không tu bổ, sửa chữa) mà để nguyên như khi bố chồng ông N1) đã xây dựng năm 1996 và sau đó bán lại cho tôi nguyên trạng như vậy. Suốt thời gian 23 năm đó, giữa bà N hoặc ông N1 chưa có việc tranh chấp hoặc khiếu kiện về đất đai với cô T2 hay anh T3. Khi tôi khi mua lại căn nhà bà N, tôi cũng không đo đạc mà chỉ nghĩ rằng chu vi, diện tích nhà đúng như số đo trong sổ hồng. Do chỉ sửa nhà trên cơ sở vách tường cũ nên việc anh T3 nói bà N (bây giờ là tôi) lấn chiếm đất nhà ông T3 là điều không thể vì:
    • + Người xây cơi nới là ông N1.
    • + Tôi chỉ nâng cao vách cũ, tô vữa, sơn phết mà không xây mới, không mở rộng diện tích.
    • + Vách nhà cô T2, anh T3 đã xây áp sát vách nhà tôi từ trước (còn để lại dấu tích sau khi anh ta đập bỏ nhà cũ).
    • + Diện tích thực tế nhà tôi vẫn không đủ (ít hơn) so với số đo diện tích được nhà nước cấp trong sổ hồng (Nếu tôi lấn thì diện tích phải nhiều hơn diện tích trong sổ).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 233, Điều 235, Điều 259 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 175, Điều 176 Bộ luật

7

dân sự năm 2015; Điều 166 của Luật Đất đai; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Viết T và bà Đào Thị Thanh H.

Buộc bà Cao Thị Ngọc N, ông Huỳnh Anh P và bà Lê Thị Thanh H1 trả lại đất lấn chiếm của ông Trần Viết T và bà Đào Thị Thanh H, phần phía trước chiều dài 10m, chiều rộng 5cm phần vách chung giữa 02 gia đình, phần phía sau theo trích đo của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B có diện tích là 1,2m², theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) của Trung tâm K, xem xét tại thực địa: cạnh giáp giữa nhà bà N với đất ông T, theo sơ đồ phần trước cách đường bê tông 10 m ( từ điểm 10 đến điểm 11) bắt đầu từ điểm 11, phần giữa: điểm 12 rộng 10 cm và điểm 13 rộng 22 cm, phần sau: điểm 3, 4 rộng 8 cm. Theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 10/6/2022 (điểm rộng là điểm lấn).

Thửa đất số 55, tờ bản đồ địa chính số 43, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tứ cận đất tranh chấp:

  • - Phía Đông giáp: đất ông Trần Viết T;
  • - Phía Tây giáp: đất bà Cao Thị Ngọc N;
  • - Phía Nam giáp: đường bê tông;
  • - Phía Bắc giáp: đường bê tông;

Kèm theo Bản đồ địa chính (chỉnh lý Trích lục) ngày 10/6/2022) và (Biên bản khảo sát ngày 26/10/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/11/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để ông thực hiện các biện pháp bồi thường thiệt hại bằng tiền cho ông Trần Viết T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đại diện bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  • - Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

8

2. Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Thanh P1, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 14/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và pháp luật được áp dụng giải quyết vụ án: Xét nội dung đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định là phù hợp với quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng mặc dù việc chuyển nhượng giữa bị đơn bà Cao Thị Ngọc N với vợ chồng ông Huỳnh Anh P, bà Lê Thị Thanh H1 chưa làm thủ tục sang tên nhưng quá trình làm việc, tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đều xác định bà H1 ông P đã chuyển nhượng nhà đất này của bà N, người hiện tại đang quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp là vợ chồng ông Huỳnh Anh P, bà Lê Thị Thanh H1 và bà Cao Thị Ngọc N cũng đã ủy quyền bà Lê Thị Thanh H1 đại diện tham gia vụ án. Việc Toà án cấp sơ thẩm không đưa bà Lê Thị Thanh H1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có thiếu sót.

[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp:

[3.1] Các bên thống nhất diện tích đất tranh chấp là 1,2m² có các cạnh cụ thể được thể hiện qua phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất gửi kèm theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) ngày 10/6/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên môi trường tỉnh B: bắt đầu từ điểm 11, phần giữa: điểm 12 rộng 10 cm và điểm 13 rộng 22 cm, phần sau: điểm 3, 4 rộng 8 cm. (điểm rộng là điểm lấn), nhà đất tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, đại diện nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất khai nhận:

Năm 2019, vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H có mua lại nhà và đất của bà Trần Thị Thanh T2 theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 605932292400815 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 25/8/2008 (Nhà B8) và sau đó được Chi nhánh Văn phòng Đ1 cập nhật biến động sang tên ông T, bà H vào ngày 27/8/2020. Còn phía bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 460104 năm 2004 (Nhà B7).

9

Nhà B7, nhà B8 có nguồn gốc nhà thuộc Khu tập thể đoàn văn công tỉnh Bình Thuận được nhà nước bán hóa giá cho cán bộ nhân viên của Đ và cán bộ làm ngành văn hóa tỉnh Bình Thuận; nhà tập thể được xây dựng liền kề nhau và có vách chung 10 cm, nhà này tiếp giáp nhà kia; các nhà lô giữa đều có bề ngang đất bằng nhau là 4m, do vậy từng nhà sẽ có bề ngang đất lọt lòng bên trong là 3,9m cộng với 10cm tường chung của 2 bên sẽ là 4m. Sau khi mua nhà của bà T2, vợ chồng ông Trần Viết T và Đào Thị Thanh H tiếp tục sử dụng hiện trạng nhà cũ. Bà N ở nhà B7 từ năm 1995 đến tháng 9/2019 vẫn giữ nguyên trạng căn nhà như khi ông N1 xây dựng năm 1996.

Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 605932292400815 thì phần đất được cấp cho nguyên đơn (thửa 55, nhà B8) có chiều rộng thửa đất 4m (cả mặt trước và mặt sau), 4 cạnh thẳng, chiều dài 21,53m, diện tích 86,12m².

Theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 460104 thì phần đất được cấp cho bị đơn (thửa 54, nhà B7) có chiều rộng 4m (cả mặt trước và mặt sau), 4 cạnh thẳng, chiều dài 21,80m, diện tích 87,2m².

Theo Bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) do Trung tâm K đo vẽ ngày 10/6/2022: cạnh chung giữa hai thửa đất không phải là một đường thẳng mà từ điểm 11 trở về sau đã cong lệch, lấn về phía thửa 55, phần giữa: điểm 12 rộng 10 cm và điểm 13 rộng 22 cm, phần sau: điểm 3, 4 rộng 8 cm. Diện tích lấn theo bản vẽ này là 1,2m².

Căn cứ Điều 175 Bộ luật dân sự 2015 thì “Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.”

Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Cao Thị Ngọc N, ông Huỳnh Anh P và bà Lê Thị Thanh H1 trả lại đất lấn chiếm 1,2m² là có căn cứ; tuy nhiên Tòa sơ thẩm không tuyên buộc tháo dỡ để trả lại đất hay trả bằng giá trị tiền tương ứng là có thiếu sót.

[3.3] Quá trình Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định ngày 21/11/2024, có mời cán bộ chuyên môn của Trung tâm K và qua đó Trung tâm K đã có Công văn số 791/TTKĐ-QLCLXD ngày 27/11/2024 với nội dung: “Trên cơ sở Công văn số 623/TABT-TDS ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về việc đề nghị cử cán bộ phối hợp xem xét, thẩm định tại chỗ, ngày 21/11/2024, Trung tâm và các đơn vị có liên quan đã tiến hành khảo sát hiện trạng, thẩm định tại chỗ với kết cấu chính của căn nhà trên thửa đất số 55, tờ bản đồ địa chính số 43, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận với ghi nhận như sau: nhà trệt, không có gác, không có tầng lửng; kết cấu chính bằng gạch, tường xây gạch ống dày 10,0cm, cột (20x20)cm xây gạch ống; khu vệ sinh có sàn bê

10

tông cốt thép để bồn nước; mái lợp tôn kẽm liên kết xà gồ thép; trần thạch cao khung nhôm nổi.Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, kết hợp kiểm tra kết cấu thực tế căn nhà nêu trên, Trung tâm có ý kiến như sau: Với kết cấu của căn nhà được xây dựng trên thửa đất số 55 thì việc tháo dỡ bức tường giáp ranh thửa 54 (một phần tranh chấp phía sau) để trả lại diện tích đất 1,2m² cho thửa đất số 54 sẽ không làm ảnh hưởng đến kết cấu chung của toàn căn nhà. Việc tháo dỡ và xây dựng lại bức tường nêu trên có thể thực hiện được. Trường hợp tháo dỡ và thi công sửa chữa cần được lên phương án và thực hiện bởi các đơn vị thiết kế, thi công có đủ năng lực theo quy định hiện hành nhằm đảm bảo an toàn trong quá trình sửa chữa và sử dụng.”

Trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm thì phía đại diện bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông P bà H1 đều thừa nhận diện tích xây dựng của mình có lấn qua của nhà nguyên đơn diện tích là 1,2m2 theo bản vẽ tranh chấp, đồng thời mong muốn giữ nguyên hiện trạng và bồi thường lại cho nguyên đơn bằng giá trị tiền, tuy nhiên nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu tháo dỡ diện tích xây dựng lấn chiếm để trả lại đất 1,2m2 cho nguyên đơn. Ngoài ra, tại phiên tòa, phía nguyên đơn thống nhất sẽ chịu toàn bộ chi phí liên quan đến việc tháo dỡ, thi công và sửa chữa lại bức tường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (theo chi phí dự toán của công ty TNHH X), nên cần tuyên buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trách nhiệm tháo dỡ các tài sản hiện có trên diện tích tranh chấp để trả lại diện tích đất 1,2 m² cho nguyên đơn theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) của Trung tâm K đo vẽ ngày 10/6/2022 và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chi trả toàn bộ chi phí tháo dỡ là phù hợp.

[4] Từ các phân tích trên thấy rằng Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết đã xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự xuất trình để từ đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên Hội đồng xét sử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận, như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về chi phí tố tụng: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Huỳnh Anh P phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Huỳnh Anh P phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

11

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 59/2022/DS-ST ngày 14 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 233, Điều 235, Điều 259, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166 của Luật Đất đai 2013; Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Buộc bà Cao Thị Ngọc N, ông Huỳnh Anh P và bà Lê Thị Thanh H1 tháo dỡ toàn bộ công trình trên diện tích đất 1,2m² và trả lại đất lấn chiếm 1,2m² cho ông Trần Viết T và bà Đào Thị Thanh H, theo bản đồ địa chính (chỉnh lý trích lục) của Trung tâm K, xem xét tại thực địa: cạnh giáp giữa nhà bà N với đất ông T, theo sơ đồ phần trước cách đường bê tông 10 m (từ điểm 10 đến điểm 11) phần lấn 1,2m² bắt đầu từ điểm 11, phần giữa: điểm 12 rộng 10 cm và điểm 13 rộng 22 cm, phần sau: điểm 3, 4 rộng 8 cm. Theo sơ đồ đo vẽ lập ngày 10/6/2022 (điểm rộng là điểm lấn và được thể hiện bằng đường nét đứt trong ghi chú).

Thửa đất số 55, tờ bản đồ địa chính số 43, tọa lạc tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tứ cận đất tranh chấp:

  • - Phía Đông giáp: đất ông Trần Viết T;
  • - Phía Tây giáp: đất bà Cao Thị Ngọc N;
  • - Phía Nam giáp: đường bê tông;
  • - Phía Bắc giáp: đường bê tông;

Kèm theo Bản đồ địa chính (chỉnh lý Trích lục) ngày 10/6/2022)

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P, bà Lê Thị Thanh H1 số tiền 80.760.000 đồng (là chi phí liên quan đến việc tháo dỡ, thi công và sửa chữa lại bức tường)

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí và chi phí tố tụng:

12

2.1. Về án phí sơ thẩm: Bà Cao Thị Ngọc N phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Viết T, bà Đào Thị Thanh H 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004338 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.

2.2. Về án phí phúc thẩm: Buộc ông Huỳnh Anh P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0013973 ngày 01/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết; Ông Huỳnh Anh P đã nộp đủ.

2.3 Về chi phí tố tụng:

  • - Xem xét, thẩm định tại chỗ lần 1 (theo yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Anh P) là 1.550.000 đồng. Ông P đã nộp đủ.
  • - Xem xét, thẩm định tại chỗ lần 2 (theo yêu cầu của nguyên đơn) là 1.850.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp chi phí này nên ông Huỳnh Anh P có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.850.000 đồng (Một triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B. Thuận;
  • - TAND thành phố P.Thiết;
  • - VKSND thành phố P.Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố P.Thiết;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/DS-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 220/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi lại tài sản quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger