TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG Bản án số: 220/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 12 năm 2024 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hồng Nhung và ông Phan Minh Quốc.
Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơnbà Nguyễn Thị Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 351/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/10/2024 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 2000
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn anh A và bị đơn chị Vân A đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Anh với chị Nguyễn Thị Vân A do quan biết, tìm hiểu rồi quyết định đi đến sống chung vào năm 2023. Có tổ chức đám cưới nhưng khôg có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Gần đây thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không còn phù hợp nên thường xuyên cự cãi và cuộc sống không còn hạnh phúc. Anh với chị Vân A đã sống ly thân từ tháng 5/2024 cho đến nay. Quá trình sống ly thân vợ chồng không gặp nhau để hàn gắn tình cảm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh A yêu cầu như sau:
- + Về hôn nhân: anh Nguyễn Hữu T xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Vân A.
- + Về con chung: không có.
- + Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- + Về nợ chung: không có.
- Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Vân A trình bày:
Chị với anh Nguyễn Hữu T chung sống với nhau từ tháng 11/2023. Có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Khi cưới về chị sống chung với gia đình chồng, quá trình sống chung không xảy ra mâu thuẫn gì. Khoảng tháng 5/2024 chị bị bệnh về mắt nên phải lên Thành phố Hồ Chí Minh khám, chị có hỏi xin ý kiến và được gia đình chồng chấp nhận. Chị lên Thành phố Hồ Chí Minh khám mắt thì bác sĩ phải theo dõi nên quyết định ở lại 1 tuần và chị có thông báo với gia đình chồng nhưng không được chấp nhận. Ba mẹ chồng còn gọi điện sang cho ba mẹ ruột chị nói những lời lẽ không hay, chị nghe giận quá nên quyết định không quay về nhà chồng nữa cho đến nay.
Nay ý kiến của của chị Nguyễn Thị Vân A như sau:
- + Về hôn nhân: đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Hữu T.
- + Về con chung: không có.
- + Về quan hệ tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu càu giải quyết.
- + Về nợ chung: không có.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn Nguyễn Hữu T và bị đơn Nguyễn Thị Vân A tham gia tố tụng và nhận các văn bản tố tụng, có mặt đúng thời gian theo giấy triệu tập của Tòa án đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội xử:
- Về hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Vân A.
- Về con chung: không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét giải quyết.
- Về án phí: nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xác định đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn chị Nguyễn Thị Vân A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.
[1.2] Nguyên đơn anh Nguyễn Hữu T và bị đơn chị Nguyễn Thị Vân A đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hàng xét xử vắng mặt anh A và chị Vân A.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Vân A thừa nhận bắt đầu chung sống với nhau từ năm 2023, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn tính tình không còn phù hợp thường hay cự cãi nên cuộc sống không còn hạnh phúc. Đến tháng 5/2024 thì chính thức sống ly thân cho đến nay. Do tình cảm không còn, không quay lại sống chung với nhau được nữa nên anh A có đơn xin được ly hôn, chị Vân A cũng đồng ý ly hôn. Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định: “Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Như vậy, mặc dù anh A và chị Vân đã chung sống với nhau một thời gian dài nhưng về mặt pháp luật không thừa nhận quan hệ giữa anh, chị là vợ chồng nên việc anh A yêu cầu ly hôn với chị Vân A là không phù hợp mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh A và chị Vân A.
[2.2] Về quan hệ con chung: không có.
[2.3] Về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: không có.
[3] Từ những phân tích trên, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, các yêu cầu khác được chấp nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
[3] Về án phí: anh A là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 9, điều 14, khoản 2 điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Vân A.
- - Về quan hệ con chung: không có.
- - Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: ghi nhận không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Vân A phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
2. Về án phí: anh Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 2.325.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011564 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Hữu T 2.025.000 đồng (hai triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng)
3. Về quyền kháng cáo: Nguyễn Hữu T và chị Nguyễn Thị Vân A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |
5
Bản án số 220/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, t/c về nuôi con
- Số bản án: 220/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, t/c về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Hữu T xin ly hôn chị Nguyễn Thị Vân A
