|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 220/2024/DS- PT Ngày: 30/9/2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hợp đồng giao khoán trồng, bảo vệ rừng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Hà Văn Nâu.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2024/DS-PT ngày 19/8/2024 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hợp đồng giao khoán trồng, bảo vệ rừng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 25/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 202/2024/QĐ-PT ngày 30/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 346/2024/QĐ-PT ngày 11/9/2024 giữa:
-
* Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV L3.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức M – Chức vụ: Giám đốc
Trụ sở: Số E, đường X, thị trấn H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đức Đ – Cán bộ kỹ thuật Lâm Trường Đ. (ông M và ông Đ đều có mặt)
Địa chỉ liên lạc: Lâm Trường Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
-
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Nguyễn Thị T – Luật sư thuộc Công ty TNHH T8 – Đoàn luật sư thành phố H, Có mặt.
-
* Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1958 – Có mặt
Bà Lương Thị T2, sinh năm 1961 – Có mặt
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà T2:
Anh Lê Văn B, sinh năm 1983 – Có mặt
Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984 – Có mặt
1
Anh Lê Văn L, sinh năm 1980 – Vắng mặt
Cùng địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Y, Bắc Giang.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân tỉnh B do ông Hoàng Hải L1 – Phó giám đốc Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn Lê Văn T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện bản tự khai và tại phiên tòa tòa hôm nay Công ty TNHH MTV L3 (gọi tắt là Công ty L3) do ông Nguyễn Đức M và ông Vũ Đức Đ đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty L3 được UBND tỉnh B giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 1003/QĐ-CT ngày 15/8/1998 giao không thu tiền sử dụng đất sang Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với diện tích 15.404.308,6 m2 đất trên địa bàn 05 xã của huyện Y, tổng số 58 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 17
Diện tích đất rừng trên được UBND tỉnh B giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 cho Công ty L3.
Trong đó tại xã Đ được giao 3.5089.072,4m2 đất rừng sản xuất, Công ty L3, sau khi được giao đất rừng sản xuất theo quyết định Công ty L3 đã được UBND tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình được quản lý và sử dụng đất Lâm trường Đông Sơn trực thuộc Công ty L3 đã thực hiện việc giao khoán cho các hộ dân như sau:
- Tháng 2/2002 Lâm trường Đ1 tổ chức ký hợp đồng trông rừng liên doanh với các hộ dân trong đó có hộ ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đã ký hợp đồng với tại khoảnh 2 lô C12, C13 diện tích 1,8 ha, đến ngày 6/10/2008 ông T1 đến Lâm trường nộp tiền sản phẩm và thanh lý hợp đồng.
- Ngày 01/4/2009 Lâm trường Đ1 và ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đã ký hợp đồng số 54/HĐ-LT tại khoảnh 2 L32, L33 diện tích 1,8 ha (trước là lô C12, C13), đến ngày 31/10/2014 ông T1 đến Lâm trường nộp tiền sản phẩm và thanh lý hợp đồng.
- Ngày 30/12/2014 Lâm trường Đ1 và ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đã ký lại hợp đồng số 21/HĐ-LT tại khoảnh 2 lô g17, g18 diện tích 1,8 ha (trước là lô L32,L33), đến tháng 5/2019 ông T1 tự ý khai thác hai lô rừng trên nhưng không nộp tiền sản phẩm và thanh lý hợp đồng. Sau nhiều lần vận đồng thì ông T1, bà T2 mới nộp cho Công ty L3 số tiền 12.000.000 đồng.
- Từ năm 2019 ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đã tự ý khai thác sau đó chiếm đất rừng của Công ty L3, Công ty L3 đã nhiều lần yêu cầu ông T1, bà T2 trả lại diện tích đất rừng đã nhận giao khoán thầu nhưng ông T1, bà T2 không trả lại.
Như vậy, ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đang lợi dụng chính các hợp đồng nhận khoán đã ký với Công ty để cố tình gây khó khăn, cản trở việc Công
2
ty thực hiên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu, sử dụng rừng của mình theo quy định của pháp luật.
Nay Công ty L3 yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn T1, bà lương Thị T2 trả lại cho Công ty L3
Tại đơn Công ty khởi kiện để yêu cầu như đã nêu trên.
* Bị đơn là ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 trình bày tại bản tự khai:
Khoảng năm 1980 ông T1, bà T2 được được bố mẹ ông T1 cho ra ở riêng và chia cho mảnh đất tại hố đá đục để trông ngô, trồng sắn, đến năm 1995 Nhà nước có chính sách phủ xanh đất trống, đồi chọc và làm kinh tế lên gia đình ông có trông cây bạch đàn xen lẫn trồng sắn
Đến năm 2002 Lâm trường Đ và cán bộ xã vào vận đồng người dân trong thôn ai có đất rừng thì làm hợp đồng liên doanh Lâm trường cấp giống và phân bón. Tại thời điểm đó ông T1 làm mặt trận thôn lên được được vận động cùng các hộ khác đến Hội trường thôn để được tư vấn và ký đơn xin liên doanh sau đó làm hợp đồng liên doanh xác nhận của UBND xã và của thôn, tuy nhiên lúc đó Lâm trường nói đất của Lâm trường lên ông T1 không ký. Từ năm 2002 ông vẫn mua cây bạch đàn về trồng và đóng thuế đầy đủ. Đến tháng 5/2019 Lâm trường lại cho người vào thu tiền lên ông nghỉ là tiền thuế lên đóng 12.000.000 đồng
Nay ông T1, bà T2 xác định không ký kết hợp đồng gì với Lâm Trường Đ, yêu cầu Lâm T4 mang các hợp đồng gốc để xác định có việc ký kết giao khoán như Công ty L3 khởi kiện không.
Ông T1, bà T4 không đồng ý trả lại đất như Công ty L3 Khởi kiện.
* Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh B trình bày: Thửa đất ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đang sử dụng tại bản Vanh, xã Đ, huyện Y nằm trong thửa đất đã được UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm trường Đ1 (nay là Công ty TNHH MTV L3) tại Quyết định số 1003/QĐ-CT ngày 15/8/1998; được Sở T9 (theo quyết định của UBND tỉnh) cấp đổi tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 418188 ngày 25/8/2021.
* Qua xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định được diện tích đất, trị giá đất và trị giá các cây cối trên đất như sau:
- Trị giá đất lâm nghiệp là 7.000đồng/m2 * 7069m2 = 49.483.000 đồng.
- Lô g17 trông bạch đàn năm 2019, đường kính trung bình 8,3cm diện tích đo thực tế 7,069ha: mật độ trung bình 700 cây/ha x 0,7069 ha x 109.000 đồng/cây = 58.751.000đồng.
- Lô g18 (trông bạch đàn năm 2020, đường kính trung bình 6,3cm diện tích đo thực tế 1,2566 ha: mật độ trung bình 1500 cây/ha x 1,2566 ha x 109.000 đồng/cây = 206.010.000 đồng.
Các đương sự nhất trí với kết quả thẩm định, định giá.
Với nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điểm a, khoản 1 điều 39; Điều 143, Điều 144; Điều 147, Điều 157; Điều 165; Điều 271, Điều 273; Điểm b, khoản 2 Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203; Điều 166; Điều 170 Luật đất đai; điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết
3
326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH MTV L3.
-
+ Buộc ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 trả lại cho Công ty TNHH MTV L3 diện tích 1,9635ha đất lâm nghiệp (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 15/11/2022) tại các lô: lô g17, g18 khoảnh 2.
-
+ Buộc ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 có trách nhiệm khai thác toàn bộ số cây trồng trên các lô g17, g18 thuộc khoảnh 2 diện tích 1,6935ha đất Lâm nghiệp để trả đất cho Công ty TNHH MTV L3. (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 15/11/2022).
Cụ thể:
-
* Lô g17: Diện tích đo đạc thực tế là 7069m2 .
Phía tây: Tiếp giáp lô g18 khoảnh 3A ông Lê Văn T1 chiếm dụng thuộc đất Công ty L3 có các cạnh 1-12 là 74,74m; cạnh 12-11 là 26,20m; cạnh 11-10 là 24,05m;
Phía bắc: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn.
Phía đông: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn và phần đất thuộc Công ty L3 có các cạnh 1-2 là 48,79m; cạnh 2-3 là 25,76m; cạnh 3-4 là 11,42m; cạnh 4-5 là 17,58m; cạnh 5-6 là 15,39m.
Phía nam: Tiếp giáp phần đất thuộc Công ty L3(lô g 16 khoảnh 3A do Lê Văn L2 nhận giao khoán) có các cạnh 6-7 là 33,88m; cạnh 7-8 là 25,12m; cạnh 8-9 là 20,50m; cạnh 9-10 là 16,44m.
(có sơ đồ đo vẽ kèm theo.)
-
* Lô g18: Diện tích đo đạc thực tế là 12566,1m2 .
Phía tây: Tiếp giáp đất của Công ty L3 lô g11, g18, g19 khoảnh 2A có các cạnh 1-18 là 57,01m; cạnh 18-17 là 17,56m; cạnh 17-16 là 19,71; cạnh 16-15 là 37,32m; cạnh 15-14 là 28,90m; cạnh 14-13 là 38,86m; cạnh 13-12 là 6,67m; cạnh 12-11 là 18,43m,
Phía bắc: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn có các cạnh 1-2 là 33,54m; cạnh 2-3 là 60,31m;
Phía đông: Tiếp giáp phần đất Công ty L3 (lô g17 khoảnh 2A ông Lê Văn T1 đang chiếm dụng) có các cạnh 3-4 là 77,74m; cạnh 4-5 là 26,20m; cạnh 5-6 là 24,05m.
Phía nam: Tiếp giáp đất Công ty L3 (lô g16 khoảnh3A Lê Văn L2 nhận khoán và lô g30 khoảnh 3A ) có các cạnh 6-7 là 23,05m; cạnh 7-8 là 27,12m; cạnh 8-9 là 19,91m; cạnh 9-10 là 14,42m; cạnh 10-11 là 55,4m.
(có sơ đồ đo vẽ kèm theo.)
-
+ Đình chỉ yêu cầu của Công ty TNHH MTV L3 yêu cầu ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 trả số tiền 22.500.000 đồng tiền sản phẩm năm 2019.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 26/4/2024, bị đơn ông Lê Văn T1 kháng cáo bản án bản án dân sự sơ thẩm đề nghị hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm để giải quyết lại.
4
Ngày 17/6/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Thế ban hành Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 25/QĐ-SCBA, nội dung sửa chữa bổ sung như sau:
- Tại trang 4 dòng thứ 5 từ dưới lên trên: “.........1,9635ha đất lâm nghiệp để trả đất cho Công ty TNHH MTV L3....”.
- Tại trang 8 dòng thứ 3,4,5 từ dưới lên trên: “.........1,9635ha đất lâm nghiệp để trả đất cho Công ty TNHH MTV L3....”.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Nguyên đơn trình bày:
Công ty L3 đã ký 03 hợp đồng với hộ gia đình ông T1 bà T2. Theo đó hai bên thỏa thuận khi đến kì khai thác thì các hộ tự khai thác, nhưng trước đó phải có đơn. Ông T1 đều nộp tiền khai thác cho Lâm trường và đều có phiếu thu. Công ty căn cứ vào sản phẩm giao khoán và cung cấp cho ông T1 phân bón, cây trồng, có hướng dẫn kĩ thuật trồng cho các hộ dân. Khi tiến hành giao đất công ty có quyết định và biên bản bàn giao đất.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bầy.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1. Căn cứ vào Biên bản xác minh với các hộ dân xung quanh thì có căn cứ chứng minh vợ chồng ông T1 bà T2 là người sử dụng đất hợp pháp, phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 1993 và thực tế sử dụng đất thì việc UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty L3 khi đang có người sử dụng đất là trái với quy định của Luật đất đai. Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa đánh giá những chứng cứ do các đương sự cung cấp. Từ sau khi được giao đất năm 1987 cho đến tận năm 2002 thì Lâm trường Đ mới sử dụng đất trên thực tế. Các tài liệu do nguyên đơn cung cấp đều là bản phô tô có đóng dấu treo của Công ty L3, chúng tôi nghi ngờ có việc cắt dán chữ ký. Hồ sơ pháp lý khẳng định công ty L3 được giao đất hợp pháp là không đúng quy định.
- Bị đơn ông T1 bà T2 trình bày: Nhất trí với trình bày của luật sư T.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn chị H anh B trình bày: Nhất trí với trình bày của luật sư T.
+ Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang phát biểu:
Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của BLTTDS.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Xuân T5, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế.
- Về án phí DSPT: Miễn án phí DSPT cho ông Lê Xuân T5.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
5
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai. Tòa án xét xử vắng mặt họ là đảm bảo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của Bị đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Xét yêu cầu của Công ty L3 về việc đề nghị ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 trả lại cho Công ty TNHH MTV L3 diện tích 1,9635ha đất lâm nghiệp (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 15/11/2022) tại các lô: lô g17, g18 khoảnh 2 thì thấy:
Căn cứ theo kết quả thẩm định, định giá về diện tích đất tranh chấp được xác định có từ cận như sau:
-
* Lô g17 khoảnh 3A: Diện tích đo đạc thực tế là 7069m2.
Phía tây: Tiếp giáp lô g18 khoảnh 3A ông Lê Văn T1 chiếm dụng thuộc đất Công ty L3 có các cạnh 1-12 là 74,74m; cạnh 12-11 là 26,20m; cạnh 11-10 là 24,05m;
Phía bắc: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn.
Phía đông: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn và phần đất thuộc Công ty L3 có các cạnh 1-2 là 48,79m; cạnh 2-3 là 25,76m; cạnh 3-4 là 11,42m; cạnh 4-5 là 17,58m; cạnh 5-6 là 15,39m.
Phía nam: Tiếp giáp phần đất thuộc Công ty L3(lô g 16 khoảnh 3A do Lê Văn L2 nhận giao khoán) có các cạnh 6-7 là 33,88m; cạnh 7-8 là 25,12m; cạnh 8-9 là 20,50m; cạnh 9-10 là 16,44m.
(có sơ đồ đo vẽ kèm theo.)
- Trị giá đất lâm nghiệp là 7.000đồng/m² * 7069m2 = 49.483.000 đồng.
- Lô g17 trồng bạch đàn năm 2019, đường kính trung bình 8,3cm diện tích đo thực tế 7,069ha: mật độ trung bình 700 cây/ha x 0,7069 ha x 109.000 đồng/cây = 58.751.000đồng.
Tổng giá trị tài sản là 108.234.000đồng.
Sự khác biệt về số lô là do thiết kế trồng rừng các năm khác nhau sẽ được đánh số lô lại dẫn đến khác nhau về số lô.
Về diện tích thực tế thẩm định là 7069m², giảm hơn so với hợp đồng trước). Quá trình sử dụng không có sự lấn chiếm với các hộ liền kề. Diện tích giảm do sai sót khi đo, các tính Xác định diện tích đất tranh chấp tại lô g17 khoảnh 2A, là 7069 m².
-
* Lô g18 khoảnh 2A: Diện tích đo đạc thực tế là 12566,1m2.
Phía tây: Tiếp giáp đất của Công ty L3 lô g11, g18, g19 khoảnh 2A có các cạnh 1-18 là 57,01m; cạnh 18-17 là 17,56m; cạnh 17-16 là 19,71; cạnh 16-15 là 37,32m; cạnh 15-14 là 28,90m; cạnh 14-13 là 38,86m; cạnh 13-12 là 6,67m; cạnh 12-11 là 18,43m,
Phía bắc: Tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn có các cạnh 1-2 là 33,54m; cạnh 2-3 là 60,31m;
6
Phía đông: Tiếp giáp phần đất Công ty L3 (lô g17 khoảnh 2A ông Lê Văn T1 đang chiếm dụng) có các cạnh 3-4 là 77,74m; cạnh 4-5 là 26,20m; cạnh 5-6 là 24,05m.
Phía nam: Tiếp giáp đất Công ty L3 (lô g16 khoảnh3A Lê Văn L2 nhận khoán và lô g30 khoảnh 3A ) có các cạnh 6-7 là 23,05m; cạnh 7-8 là 27,12m; cạnh 8-9 là 19,91m; cạnh 9-10 là 14,42m; cạnh 10-11 là 55,4m.
(có sơ đồ đo vẽ kèm theo.)
Trị giá đất lâm nghiệp là 7.000đồng/m² * 12566,1 = 87.962.700 đồng.
Lô g18 (trông bạch đàn năm 2020, đường kính trung bình 6,3cm diện tích đo thực tế 1,2566 ha: mật độ trung bình 1500 cây/ha x 1,2566 ha x 109.000 đồng/cây = 206.010.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 293.972.000đồng.
Sự khác biệt về số lô là do thiết kế trồng rừng các năm khác nhau sẽ được đánh số lô lại dẫn đến khác nhau về số lô.
Về diện tích thực tế thẩm định là 12566,1m² tăng hơn so với hợp đồng trước). Quá trình sử dụng không có sự lấn chiếm với các hộ liền kề. Diện tích giảm do sai sót khi đo, các tính Xác định diện tích đất tranh chấp tại lô g18 khoảnh 2A, là 12566,1 m²
[2.1.1] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp: Phía nguyên đơn xác định thửa đất ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đang sử dụng tại khoảnh 2 lô g17, g18 diện tích 1,8 ha (trước là lô L32,L33) nằm trong diện tích đất 700.102. m2 tại thửa đất số 01 tờ bản đồ số 77 của xã Đ mà Công ty L3 đã được UBND tỉnh B giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 1003/QĐ-CT ngày 15/8/1998 giao không thu tiền sử dụng đất sang Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm đối với diện tích 15.404.308,6 m2 đất trên địa bàn 05 xã của huyện Y, tổng số 58 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 17. Diện tích đất rừng trên được UBND tỉnh B giao đất không thu tiền sử dụng đất theo Quyết định số 1086/QĐ-UBND ngày 27/11/2020 cho Công ty L3. Tài liệu, chứng cứ phía nguyên đơn xuất trình gồm Quyết định số 1003/QĐ-CT ngày 15/8/1998 của UBND tỉnh B giao đất cho Lâm trường Đ (Công ty TNHH MTV L3) và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm trường Đ, diện tích được giao tại xã Đ là 526,95ha; Quyết định số 39/QĐ-UBND ngày 14/4/2010 UBND tỉnh B về việc thu hồi rừng và đất lâm nghiệp tại xã Đ là 66,22ha; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty TNHH MTV L3 được Sở T9 cấp đổi tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 418188 ngày 25/8/2021.
Phía bị đơn ông T1, bà T2 cho rằng diện tích đất mà ông bà đang sử dụng là do bố mẹ ông T1 cho để trồng ngô, trồng sắn, đến năm 1995 Nhà nước có chính sách phủ xanh đất trống, đồi chọc và làm kinh tế nên gia đình ông có trông cây bạch đàn xen lẫn trồng sắn. Tuy nhiên ông T1, bà T2 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời trình bày của mình.
Trong khi đó, qua quá trình xác minh tại địa phương xã Đ đều xác định từ trước đến nay ông T1, bà T2 không được giao đất rừng sản xuất và cũng chưa bao giờ ông T1, bà T2 làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. UBND tỉnh B có quan điểm thửa đất ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 đang sử
7
dụng tại bản Vanh, xã Đ, huyện Y nằm trong thửa đất đã được UBND tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Lâm trường Đ1 (nay là Công ty TNHH MTV L3) tại Quyết định số 1003/QĐ-CT ngày 15/8/1998; được Sở T9 (theo quyết định của UBND tỉnh) cấp đổi tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 418188 ngày 25/8/2021.
Xét thấy, lời khai của phía nguyên đơn phù hợp với ý kiến của UBND tỉnh B, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ pháp lý khẳng định Công ty TNHH MTV L3 đã được cơ quan có thẩm quyền giao quản lý, sử dụng 700.102 m2 đất rừng sản xuất trong đó có lô g17, lô g18 khoảnh 2 tại khu vực mỏ hương, xã Đ mà hiện nay ông T1, bà T2 đang lấn chiếm.
[2..1.2] Về quá trình sử dụng đất:
Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định: Phía công ty L3 đã được giao đất quản lý, sử dụng liên tục từ năm 1997 theo Quyết định của UBND tỉnh H, đến năm 2009 công ty đã ký hợp đồng giao, nhận khoán liên tục cho hộ ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2, đến năm 2019 thì mới xảy ra tranh chấp với hộ ông T1, bà T2 do ông T1, bà T2 không ký kết các hợp đồng giao khoán và trả tiền nhận giao khoán. Phía ông T1, bà T2 cho rằng ông không nhận giao khoán mà chỉ ký kết hợp đồng để Công ty đóng thuế cho ông. Tuy nhiên, qua xem xét các hợp đồng mà phía Công ty L3 ký kết với ông T1, bà T2 đều không thể hiện việc ký kết hợp đồng để Công ty đóng thuế cho ông như ông T1 trình bày. Tại phiên tòa phúc thẩm ngoài lời khai về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất có xác nhận của một số hộ dân trong thôn, ông T1 trình bày không có tài liệu giấy tờ gì thể hiện đã được giao toàn bộ diện tích đất đang có tranh chấp nêu trên.
Như vậy, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 trả lại cho Công ty TNHH MTV L3 diện tích 1,9635ha đất lâm nghiệp (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 15/11/2022) tại các lô: lô g17, g18 khoảnh 2 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty L3 về việc đề nghị ông T1, bà T2 khai thác toàn bộ cây trồng trên các lô g17, g18 thuộc khoảnh 2 diện tích 1,6935ha đất Lâm nghiệp để trả đất cho Công ty TNHH MTV L3 tại khu vực Mỏ hương, xã Đ, huyện Y, thì thấy:
Như đã phân tích tại mục [2.1] ông Lê Văn T1, bà Lê Thị T6 lấn chiếm diện tích 1,9635ha đất lâm nghiệp (Theo sơ đồ đo vẽ ngày 15/11/2022) tại các lô: lô g17, g18 khoảnh 2 của Công ty L3. Việc ông T1, bà T6 tự ý trồng cây trên đất khi chưa có sự đồng ý của Công ty L3 là trái phép. Công ty L3 đề nghị ông Lê Văn T1, bà Lương Thị T2 khai thác toàn bộ cây trồng trên các lô g17, g18 thuộc khoảnh 2 diện tích 1,6935ha đất Lâm nghiệp để trả đất cho Công ty TNHH MTV L3 mà ông bà đã lấn chiếm là có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Ông Lê Văn T3 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm ông T1 không đưa ra được tài liệu gì mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
8
Từ những phân tích, đánh giá trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông La Văn T7, giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xử.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông La Văn T7, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 16/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí DSPT: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Lê Văn T1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
9
Bản án số 220/2024/DS- PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hợp đồng giao khoán trồng, bảo vệ rừng
- Số bản án: 220/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản, tranh chấp hợp đồng giao khoán trồng, bảo vệ rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất giữa công ty TNHH Đ B và ông T
