Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2024/DS-PT

Ngày 18 tháng 9 năm 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng chuyển nhượng; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng là hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chia di sản thừa kế

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Hưng và bà Phạm Thị Minh Châu;

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Mỹ Duyên, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng chuyển nhượng; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng là hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chia di sản thừa kế”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 274/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 127/2024/QĐXXPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng T8; Trụ sở: Số A - 147 - 149 đường H, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

Ông Nguyễn Văn S, chức vụ: Giám đốc Ban Công nợ (vắng mặt);

Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: Cán bộ Ban Công nợ (vắng mặt);

Ông Lê Đình Q, sinh năm 1995, chức vụ: chuyên viên xử lý nợ (có mặt);

Cùng địa chỉ: Ngân hàng T8; Số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (đại diện theo Giấy ủy quyền số 47/2023/GUQ-CB ngày 22 tháng 3 năm 2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của nguyên đơn:

Ông Châu Thành N (vắng mặt), ông Nguyễn Việt C (vắng mặt), ông Hoàng Văn N1 (có mặt), Luật sư Công ty L3, thuộc đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: P, Tòa nhà A, khu đô thị N, phường Y, quận C, Thành phố Hà Nội.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Huỳnh H, sinh năm 1982; địa chỉ: số G đường Y, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và số D, hẻm T, Tổ D, Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1969 (vắng mặt);
  • - Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1969 (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1987 (vắng mặt);
  • - Bà Nguyễn Thu H1, sinh năm 1959 (vắng mặt);
  • - Anh Hà Văn C1, sinh năm 1986 (vắng mặt);
  • - Hà Bảo T2, sinh năm 2009; Hà Bảo T3, sinh năm 2012; Hà Bảo T4, sinh năm 2015; cùng cư trú: Số D đường C, ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;

Người đại diện theo pháp luật của các cháu T2, T3, T4 là anh Hà Văn C1 (vắng mặt);

  • - Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1957 (vắng mặt);
  • - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1961 (vắng mặt);

Cùng cư trú: Khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;

  • - Ông Nguyễn Văn Â, sinh năm 1963 (đã chết ngày 05/7/2024);

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn Á: Bà Trần Thị H3, sinh năm 1964; anh Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1984; chị Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1993; cùng cư trú: Khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

  • - Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1967; nơi cư trú: Tổ F, ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1966 (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn Nhật L1, sinh năm 1984 (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn N3 (M) Muội (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn Thị Mỹ H4, sinh năm 1993 (vắng mặt);

Cùng cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện P, tỉnh An Giang.

  • - Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  • - Văn phòng C2; trụ sở: số C đường L, phường M, thành phố L (vắng mặt).
  • - Ông Trần Cao D, sinh năm 1985 (vắng mặt);
  • - Bà Lê Thị Phương L2, sinh năm 1991 (vắng mặt);

Cùng cư trú: số D đường C, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang.

  • - Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

4. Người kháng cáo: Ngân hàng T8.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, Ngân hàng T8 do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 06 tháng 6 năm 2017, Ngân hàng T8 (sau đây viết tắt là Ngân hàng T8) – Chi nhánh A và bà Nguyễn Thị Huỳnh H đã ký Hợp đồng tín dụng số 11/2017/22000/06.HĐTD/200. Theo đó, Ngân hàng T8 Chi nhánh A cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H vay 1.900.000.000 đồng; mục đích vay: bù đắp tiền mua nhà ở gắn liền với đất ở; thời gian vay: 180 tháng (từ ngày 07 tháng 6 năm 2017 đến ngày 07 tháng 6 năm 2032. Lãi suất vay:

+ Lãi suất cho vay ban đầu: Áp dụng theo thông báo số: 1520/2016/TB-TGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2016. Gói lãi ưu đãi LS04: Lãi suất trong năm đầu chia làm 02 giai đoạn: 06 tháng đầu: 6.5%/năm; 06 tháng sau: 7.5%/năm .

+Lãi suất cho vay sau điều chỉnh: Gói lãi ưu đãi LS04; Lãi suất trong năm đầu chia làm 02 giai đoạn (6 tháng đầu, 6 tháng sau). Từ năm 2: Lãi suất huy động 12 tháng trả sau + 3.3%/năm.

Ngày 22 tháng 3 năm 2018, các bên ký kết Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng, số 11.1/2017/22000/06.HĐTD/200; nội dung: Sửa đổi về phương thức tính lãi. Kỳ điều chỉnh lãi suất: Khoản vay ngắn hạn: lãi suất cố định trong suốt thời gian vay, mức lãi suất được xác định tại thời điểm bên vay rút khoản vốn đầu tiên. Khoản vay trung/ dài hạn: sẽ được bên cho vay điều chỉnh và thông báo cho bên vay định kỳ 03 tháng/lần kể từ ngày bên vay rút khoản vốn đầu tiên. Lãi phạt nợ gốc quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.

Đến ngày 22 tháng 3 năm 2018, các bên ký kết Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 11.2/2017/22000/06.HĐTD/200 để sửa đổi thành “Lãi phạt nợ gốc quá hạn là 10%/ năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”. Thời gian trả nợ: Nợ gốc: Vào ngày 05 hàng tháng. Nợ lãi: Vào ngày 05 hàng tháng. Nợ gốc được trả thành 180 kỳ. Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 10.555.000 đồng. Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 10.655.000 đồng.

Ngày 25 tháng 10 năm 2018, các bên ký kết phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 11.3/2017/22000/06.HĐTD/200 để sửa đổi về đặc điểm tài sản thế chấp.

Để bảo đảm khoản vay trên, ngày 06 tháng 6 năm 2017, bà Nguyễn Thị Huỳnh H đã ký với Ngân hàng T8 Hợp đồng thế chấp tài sản số 11/2017/22000/07.1.HĐTC/200 và Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng số 11.1/2017/22000/07.1.HĐTC/200 ngày 25 tháng 10 năm 2018, để thế chấp quyền sử dụng đối với thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 33; diện tích 80,3m², tọa lạc tại thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH04913 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 21 tháng 7 năm 2015 cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H (cập nhật bổ sung ngày 06 tháng 06 năm 2017).

Tính đến hết ngày 07 tháng 7 năm 2021, bà Nguyễn Thị Huỳnh H đã trả cho Ngân hàng T8 tổng cộng số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, còn nợ là 477.647.885 đồng, trong đó: nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 72.414.367 đồng, phạt chậm trả lãi là 5.506.518 đồng.

Do bà H vi phạm nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng nhưng bà H không thực hiện, nên Ngân hàng T8 ban hành Quyết định 115/2020/QĐ-CB về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn cả gốc và lãi của bà H.

Ngân hàng T8 yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà H phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi còn Ngân hàng T8 với tổng số tiền là 477.647.885 đồng, trong đó: nợ gốc là 400.000.000 đồng, nợ lãi là 72.414.367 đồng, phạt chậm trả lãi là 5.506.518 đồng (tạm tính đến ngày 07 tháng 07 năm 2021). Bà H phải thanh toán toàn bộ nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi phạt sinh đối với toàn bộ số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 08 tháng 7 năm 2021 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp tài sản số 11/2017/22000/07.1.HĐTC/200 ngày 06 tháng 6 năm 2017 để bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ của bà H đối với Ngân hàng T8 theo Hợp đồng tín dụng số 11/2017/22000/06.HĐTD/200 ngày 06 tháng 6 năm 2017. Trường hợp bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng T8 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T8 để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà H đối với Ngân hàng T8. Nếu số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của bà H tại Ngân hàng T8, thì bà H có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng T8.

Đối với yêu cầu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gia đình ông Nguyễn Văn L thì Ngân hàng có ý kiến như sau: Việc Ngân hàng nhận thế chấp tài sản là đúng quy định pháp luật, căn cứ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp hợp pháp cho bà H. Khi Ngân hàng tiến hành thẩm định để nhận thế chấp tài sản thì gia đình ông L có mặt tại nhà và biết được việc bà H đem tài sản đi thế chấp Ngân hàng thông qua Chứng thư thẩm định giá số AGG2448/17/EXIMA.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Huỳnh H: vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K trình bày:

Vào năm 2013, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K có vay của bà Nguyễn Thị Huỳnh H số tiền 50.000.000 đồng, một tháng trả lãi là 2.800.000 đồng. Ông L,

bà K trả được 49.700.000 đồng. Sau đó bà H dùng thủ đoạn lừa gạt ông L, bà K cho choi, hứa, hứa sẽ cho ông L, bà K hốt trước để trả hết nợ và nói với ông L, bà K phải đưa quyền sử dụng đất để làm bằng. Sau khi ông L, bà K đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H thì bà H có làm biên nhận giữ giấy tờ đất của ông L, bà K tại thành phố L. Khi giữ giấy tờ, bà H bắt buộc ông L, bà K phải đến Văn phòng công chứng để cơ quan Nhà nước bảo vệ cho mình. Vì ông L, bà K ít học nên bị bà H lừa gạt khi công chứng rồi từ đó về sau không điện thoại hay liên lạc được với bà H.

Đến năm 2019, Ngân hàng T8 đến nhà và yêu cầu ông L, bà K phải ký biên bản bàn giao căn nhà đang ở tại Tổ F, ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang cho Ngân hàng. Lúc đó ông L, bà K mới biết bà H lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đi sang tên cho bà H và vay tiền Ngân hàng với số tiền 400.000.000 đồng.

Ông L, bà K yêu cầu Tòa án giải quyết: (1) Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị Huỳnh H, (2) Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng ngày 27 tháng 12 năm 2013 giữa ông L, bà K với bà Huỳnh H vô hiệu, (3) Tuyên bố hợp đồng thế chấp giữa bà Huỳnh H với Ngân hàng T8 vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thu H1, bà Nguyễn Thị H2 (do ông Nguyễn Văn Á đại diện) và ông Nguyễn Văn Á trình bày:

Cha mẹ của các ông bà là ông Nguyễn Văn T6 (chết năm 1970) và bà Bùi Thị Y1 (chết năm 1999). Cha mẹ ông bà có 07 người con gồm: Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thu H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Văn Â, Nguyễn Thu P1, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn L. Bà Nguyễn Thu P1 đã chết và có chồng là Nguyễn Tấn P (sinh năm 1966), có 03 con là Nguyễn Nhật L1, Nguyễn Nhật M, Nguyễn Mỹ H4.

Khoảng năm 1952, cha mẹ (ông T6, bà Y1) có xây dựng một căn nhà trên đất của ông Trương Văn H5 để ở. Đến năm 1976 thì được ông H5 bán cho gia đình các ông bà với giá là hai chỉ vàng 24K. Lúc đó, cha là ông T6 chết, các anh em cùng nhau làm mướn góp tiền lại mua đất để ở. Năm 1999 bà Y1 chết, anh em sử dụng nhà cha mẹ làm phủ thờ tổ tiên và là nơi gia đình tụ họp, còn ông Nguyễn Văn L lúc đó chỉ mới 07 tuổi.

Đến năm 2013, ông Nguyễn Văn L vay tiền của bà Nguyễn Thị Huỳnh H 50.000.000 đồng. Sau đó, bà H kêu ông L, bà K đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H, đem tài sản đi sang tên và thế chấp Ngân hàng.

Các ông, bà Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thu H1, Nguyễn Thị H2 xác định thửa đất số 173, tờ bản đồ số 33, diện tích 80,3m², tại địa chỉ: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang là tài sản chung của các anh chị em (N2, H1, H2, Nguyễn Văn Â, Nguyễn Thu P1 (chết), Nguyễn Văn T5, Nguyễn Văn L) do cha mẹ chết để lại chưa chia di sản thừa kế. Việc ông L, và bà Kiều T7 chuyển quyền sử dụng đất và nhà cho bà H là không phù hợp quy định pháp luật nên yêu cầu Tòa án giải quyết: chia tài sản này cho 06 anh em và chồng con bà P1 cùng đứng tên đồng sở hữu; tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà K với bà H để trả lại tài sản chung cho các anh chị em; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH04913

do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang, cấp ngày 21 tháng 7 năm 2015 cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01303 QSDĐ/Fd do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang, cấp ngày 21 tháng 10 năm 2003 cho ông Nguyễn Văn L đứng tên; tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp tài sản giữa bà H với Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Cao D, bà Lê Thị Phương L2 trình bày: Do căn nhà của ông L bà K có một phần diện tích xây dựng trên đất của ông D, bà L2, nếu căn nhà của ông L, bà K đã ở cố định thì vợ chồng ông D, bà L2 thống nhất vẫn cho tiếp tục ở trên phần đất này, nếu căn nhà có sửa chữa lại phải trả lại phần diện tích đã xây dựng trên thửa đất của ông D, bà L2 quản lý, nếu có chuyển quyền sử dụng cho người khác thì ông L, bà K phải thông báo cho ông D, bà L2 biết để bên nhận tài sản mới ký cam kết thời gian sẽ trả lại phần đất đã xây dựng trên thửa đất của ông D, bà L2. Còn hiện nay ông D, bà L2 không có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp với ông L, bà K.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không cung cấp ý kiến, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Nguyễn Thu H1 và bà Nguyễn Thị H2 tự nguyện rút lại yêu cầu chia di sản thừa kế; giữ nguyên yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà H, yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản giữa bà H với Ngân hàng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà K với bà H vô hiệu.

Tại Bản án sơ thẩm số 274/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T8 đối với bà Nguyễn Thị Huỳnh H về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

- Buộc bà Nguyễn Thị Huỳnh H phải trả cho Ngân hàng T8 số tiền tổng cộng là 612.551.486 đồng (sáu trăm mười hai triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn bốn trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: nợ gốc là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng), nợ lãi tạm tính đến ngày 29 tháng 9 năm 2023 là: nợ lãi trong hạn 180.013.143 đồng (một trăm tám mươi triệu không trăm mười ba nghìn một trăm bốn mươi ba đồng), nợ lãi chậm trả lãi là 32.538.343 đồng (ba mươi hai triệu năm trăm ba mươi tám nghìn ba trăm bốn mươi ba đồng).

- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 29 tháng 9 năm 2023) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng số 11/2017/22000/06.HĐTD/200 ngày 06 tháng 6 năm 2017, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 11.1/2017/22000/06.HĐTD/200 ngày 22 tháng 3 năm 2018, Phụ lục sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 11.2/2017/22000/06.HĐTD/200 ngày 22 tháng 3 năm 2018, Phụ lục sửa đổi, bổ sung Hợp đồng tín dụng số 11.3/2017/22000/06.HĐTD/200 ngày 15 tháng 10 năm 2018. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng

vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng T8 đối với bà Nguyễn Thị Huỳnh H về xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đối với thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 33; tọa lạc tại: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; diện tích 80,3m².

3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thu H1 và bà Nguyễn Thị H2 về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp tài sản vô hiệu.

- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/12/2013 giữa ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K với bà Nguyễn Thị Huỳnh H đối với thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 33; tọa lạc tại: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; diện tích 80,3m², hình thức sử dụng: 80,3m² là vô hiệu.

- Tuyên bố hợp đồng thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 80,3m2, thửa số 172, tờ bản đồ số 33; tọa lạc tại: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH04913 ngày 21 tháng 7 năm 2015 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H, theo hợp đồng thế chấp tài sản số

11/2017/22000/07.1.HĐTC/200 ngày 06/6/2017 giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh H với Ngân hàng T8 là vô hiệu.

Tuyên bố Phụ lục sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 11.1/2017/22000/07.1.HĐTC/200 ngày 25 tháng 10 năm 2018 (đính kèm Hợp đồng thế chấp tài sản số 11/2017/22000/07.1.HĐTC/200 ngày 06 tháng 6 năm 2017) giữa bà Nguyễn Thị Huỳnh H với Ngân hàng T8 vô hiệu.

- Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị K có quyền sử dụng đối với thửa đất số: 172, tờ bản đồ số: 33; tọa lạc tại: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; diện tích 80,3m², hình thức sử dụng: 80,3m²; chung: không m²; mục đích sử dụng: đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: lâu dài; nguồn gốc sử dụng: công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

- Ngân hàng T8 có nghĩa vụ giao trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CH04913 ngày 21 tháng 7 năm 2015 do Ủy ban nhân dân huyện P cấp cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Kiều .

- Ông Nguyễn Văn L, Nguyễn Thị K có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động hoặc cấp lại quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K theo quy định của pháp luật.

- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Huỳnh H số tiền tổng cộng là 48.128.767 đồng (bốn mươi tám triệu một trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

4. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thu H1 và bà Nguyễn Thị H2 về việc yêu cầu chia di sản thừa kế là thửa đất số 172, tờ bản đồ số 33, tọa lạc tại: thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; diện tích 80,3m² và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: 01303 QSDĐ/Fd do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 21 tháng 10 năm 2003 cho ông Nguyễn Văn L.

5. Đình chỉ giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N2.

6. Về chi phí tố tụng:

- Ngân hàng T8 có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), đã nộp xong.

- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thu H1, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn N2 có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng là 2.800.500 đồng (hai triệu tám trăm nghìn năm trăm đồng), đã nộp xong.

7. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ngân hàng T8 phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.553.000 đồng (mười một triệu năm trăm năm mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000870 ngày 11 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ngân hàng T8 được nhận lại số tiền 11.253.000 đồng (mười một triệu hai trăm năm mươi ba nghìn đồng).

- Bà Nguyễn Thị Huỳnh H có nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm là: 28.302.059 đồng (hai mươi tám triệu ba trăm linh hai nghìn không trăm năm mươi chín đồng).

- Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K có nghĩa vụ liên đới chịu án phí sơ thẩm là: 2.406.438 đồng (hai triệu bốn trăm linh sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000784 ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị K còn phải nộp tiếp số tiền là 2.106.438 đồng (hai triệu một trăm linh sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng).

- Ông Nguyễn Văn N2, bà Nguyễn Thu H1, bà Nguyễn Thị H2 được miễn nộp án phí sơ thẩm.

8. Án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng T8 phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0002549 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tp Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS tp Long Xuyên ;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng chuyển nhượng; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng là hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 220/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng; hợp đồng chuyển nhượng; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng là hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng thế chấp vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thế chấp tài sản bị vô hiệu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger