Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 220/2024/HS - ST

Ngày: 11/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ông Vũ Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân Ông Nguyễn Hải Phùng
Bà Nguyễn Thị Cờ
Thư ký ghi biên bản phiên tòa Bà Trần Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 11/7/2024, tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 198/2024/HSST ngày 24/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-HS ngày 01/7/2024 đối với bị cáo có lý lịch như sau:

Họ và tên: Phạm Xuân H- Sinh ngày 07/04/1964; Nơi ĐKHKTT và N ở: Số B phố N, phường Đ, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Xuân T - Sinh năm: 1919 (đã mất); Con bà: Nguyễn Thị T1 - Sinh năm: 1918 (đã mất); A, chị, em ruột: Gia đình có 05 chị em. Bị cáo là con Ú; Vợ, con: Chưa có; D chỉ bản số 305 lập ngày 07/4/2024 tại Công an quận Đ, thành phố Hà Nội. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/12/1982 bị Công an quận H, TP Hà Nội bắt về hành vi Trộm cắp tài sản của công dân (đã xoá). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/03/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. (có mặt tại điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/03/2024, tại trước số nhà A B ngõ D P, phường K,quận Đ, thành phố Hà Nội. Tổ công tác của Công an phường K đang làm nhiệm vụ thì phát hiện Phạm Xuân H đang ngồi trên xe máy nhãn hiệu Honda SCR, biển kiểm soát 29C1-005.25 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, đã phát hiện thu giữ trong mặt nạ xe máy 1 gói băng dính màu đen kích thước 03 x 03 cm, bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước 02 x 02 cm chứa tinh thể màu trắng. Đấu tranh tại chỗ H khai nhận là ma tuý M, H mang đi để bán, nhưng chưa kịp bán thì cơ quan Công an bắt giữ.

Tại bản Kết luận giám định số 2450/KL-KTHS ngày 07/4/2024, của Phòng K Công an H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (bên ngoài quấn băng dính màu đen) là ma tuý loại Methamphetamine, khối lượng 0,438 gam".

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Xuân H khai nhận hành vi phạm tội như sau: khoảng 12h00 phút ngày 29/3/2024, H nhận được điện thoại qua ứng dụng Zalo của “K” (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) hỏi mua 500.00₫ ma tuý đá, H đồng ý và được “K” hẹn từ 15 giờ - 16 giờ cùng ngày mang ma tuý đến ngõ D P, phường K, quận Đ, Hà Nội sẽ có người liên lạc để lấy ma tuý. Sau đó, H điều khiển xe máy Honda SCR màu đen, BKS: 29C1-005.25 đến trước cửa số nhà C đê L, phường T, quận Đ, Hà Nội mua của đối tượng Q (không rõ tên tuổi, địa chỉ) 01 túi ma tuý đá với giá 300.000đ. Sau đó, H lấy băng dính màu đen quấn túi ma tuý cất vào mặt nạ xe máy Honda SCR, BKS: 29C1-005.25 rồi điều khiển xe máy đến trước số A B ngõ D P, phường K, quận Đ, Hà Nội thì dừng xe ngồi đợi người mua ma tuý đến để giao hàng. Khi đang chờ giao ma tuý thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, bắt giữ và thu giữ số ma tuý Methamphetamine trên, đây là lần đầu tiên H đi bán ma tuý thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang.

Đối với đối tượng Q đã bán cho H ma tuý, tại cơ quan điều tra H khai: Q là nam giới khoảng 50 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60; H không biết họ tên đầy đủ của Q, không biết địa chỉ nhà ở đâu, không có số điện thoại nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.

Đối với đối tượng mua ma tuý của H có tài khoản zalo “K” qua mạng xã hội Zalo; sau khi liên lạc trao đổi mua bán ma tuý xong, H đã xoá nhật ký cuộc gọi nên không nhớ tài khoản Zalo của “K”. Do không xác định được nhân thân đối tượng mua ma tuý nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được.

Vật chứng vụ án

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:

  • 01 (một) túi gói băng dính màu đenn kích thước 02 x 02 cm chứa tinh thể màu trắng của Phạm Xuân H;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 92A màu xanh, lắp sim 0966440022 đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SCR, biển kiểm soát: 29C1-00525, (Sk; 1003049, SM; 01633) đã qua sử dụng.
  • 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xa máy số 020043 mang tên Nguyễn Thùy D1 (có bảng kê kèm theo).

Cáo trạng số 203/CT-VKSĐĐ ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Phạm Xuân H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo H thừa nhận việc bị truy tố về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã nêu, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 26 đến 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 29/03/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số 0.438 gam ma tuý Methamphetamin, 01 sim điện thoại số 0966.440.xxx; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 92A màu xanh; 01 xe máy Honda SCR màu đen, BKS 29 C1-005.25, (SK: 1003049, SM: 01633), 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xa máy số 020043 mang tên Nguyễn Thùy D1 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng.

Các hành vi, quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhận tội, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng đã nêu là đúng. Qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội hoàn toàn phù hợp biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, tại khu vực trước số nhà A B ngõ D P, phường K, quận Đ, TP Hà Nội, Phạm Xuân H có hành vi cất giấu 0.438 gam ma tuý Methamphetamin với mục đích bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác công an phường K bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật. Do vậy hành vi của Phạm Xuân H đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 251 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm gia tăng tệ nạn ma túy và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nên miễn áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma tuý thu giữ của bị cáo, xét đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo 92A màu xanh, lắp sim 0966440022 đã qua sử dụng; 01 xe máy Honda SCR màu đen BKS 29 C1- 005.25, (SK: 1003049, SM: 01633) đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 020043 mang tên Nguyễn Thùy D1, bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước và tiêu huỷ sim điện thoại số 0966.440.xxx.

[5] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng Q đã bán cho H ma túy, tại cơ quan điều tra H khai: Q là nam giới khoảng 50 tuổi, dáng người gầy, cao khoảng 1m60; H không biết họ tên đầy đủ của Q, không biết địa chỉ nhà ở đâu, không có số điện thoại nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng mua ma túy của H có tài khoản Zalo “K”, H không biết tên tuổi, địa chỉ, chỉ quen “K” qua mạng xã hội Zalo; sau khi liên lạc trao đổi mua bán ma túy xong, H đã xóa nhật ký cuộc gọi nên không nhớ tài khoản Zalo của “K”. Do không xác định được nhân thân đối tượng mua ma túy nên Cơ quan điều tra không làm rõ để xử lý được Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106; Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.
    • - Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, danh mục án phí kèm theo.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Xuân H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  3. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân H 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2024.
  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có chữ ký giám định viên Nguyễn Văn H1, đối tượng Phạm Xuân H, người chứng kiến Nguyễn Văn M1, cán bộ công an phường Phạm Tuấn H2 cùng hình dấu Công an phường K; 01 sim điện thoại.
    • + Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong); 01 xe máy Honda SCR màu đen BKS 29 C1- 005.25, (SK: 1003049, SM: 01633) xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thùy D1.

    Hiện các vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng số 255 ngày 09/7/2024 giữa Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

  5. Án phí và quyền kháng cáo:

    Bị cáo Phạm Xuân H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Công an quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; ;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HS - ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 220/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger