Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 220/2024/HS-ST

Ngày: 16/9/2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên.

  • Ông Lò Văn Chương.

  • Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 235/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với Bị cáo:

  1. Họ và tên: Lò Văn H; sinh ngày: 01/02/1994 tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn T (đã chết) và Con bà: Lò Thị T1; sinh năm 1967; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án xét xử.

  2. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/01/2024 đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

    Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Cảnh P- Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).

  3. Bị hại gồm:

    • + Chị Lường Thị B; sinh năm 1994. Nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

    • + Anh Trần Văn K; sinh năm 1988. Nơi thường trú: Thôn V, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

3. Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm:

  • + Chị Lò Thị H1; sinh năm 1998. Nơi thường trú: Bản N, xã H, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

  • + Chị Lại Thị T2; sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

  • + Anh Quàng Nhất L; sinh năm 2005. Địa chỉ: Bản C, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên (vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Bị cáo H có quen biết với chị Lò Thị H1; sinh năm 1998 địa chỉ tại bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên vào năm 2016, có số điện thoại và facebook của nhau, hai bên thường xuyên nhắn tin nói chuyện. Vào khoảng tháng 11/2020, H nhiều lần gọi, nhắn tin qua M, tên tài khoản “Trần Duy H2” và dùng số điện thoại 0963.558.xxx gọi điện thoại cho chị H1 nói chuyện, H2 đưa ra thông tin không đúng sự thật là “có quen biết với ông Lê Hữu K1 làm Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đ và quen chị P làm tại Sở Giáo dục tỉnh Đ nên có khả năng xin chuyển công tác cho các cô giáo, nếu ai có nhu cầu xin chuyển công tác thì liên hệ với H2”.

Đến khoảng 21 giờ một ngày vào tháng 11/2020, H2 gọi qua M1 cho chị H1, trong khi chị H1 nói chuyện với bị cáo H2, thì một người phụ nữ tên Lường Thị B; sinh năm 1994 trú tại thôn V, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N ở bên cạnh chị H1 có nghe nội dung nói chuyện giữa Bị cáo với chị H1. Sau khi chị H1 nói chuyện với Bị cáo xong, thì chị B xin số điện thoại của Bị cáo từ chị H1. Đến khoảng 08 giờ một ngày tháng 11/2020, chị B có gọi điện thoại cho Bị cáo, qua nói chuyện chị B có nguyện vọng chuyển công tác về Trường Mầm non xã T, huyện Đ nên nhờ H2 giúp. Để tạo lòng tin, Bị cáo nói “có quen biết với ông Lê Hữu K1 làm Giám đốc Sở Nội vụ và chị P làm ở Sở Giáo dục tỉnh Đ, nên có khả năng xin chuyển công tác cho các cô giáo”. Bị cáo có hướng dẫn cho chị B làm hồ sơ, phô tô công chứng các văn bằng, chứng chỉ rồi gửi cho H2. Sau đó chị B gửi số điện thoại của Bị cáo và trao đổi nội dung xin chuyển công tác cho anh Trần Văn K; sinh năm 1988 trú tại thôn V, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; chỗ ở hiện nay: Bản N, xã N, huyện N là chồng của chị B biết. Đến khoảng 8 giờ một ngày cuối tháng 11/2020, anh K gọi điện thoại và hẹn gặp Bị cáo tại quán cafe “MỘC” tại Đường 15m, thuộc phường M, thành phố Đ, lúc đó chỉ có Bị cáo và anh K. Trong lúc nói chuyện, Bị cáo tiếp tục đưa ra thông tin “có quen biết với ông Lê Hữu K1 làm Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đ và quen chị P làm tại Sở Giáo dục tỉnh Đ có thể giúp B chuyển công tác về huyện Đ, chi phí để chuyển công tác cho B là 210.000.000 đồng”, anh K đồng ý, hẹn Bị cáo 01 tuần sau đến nhà anh K tại xã T để anh K và chị B đưa tiền và làm bản cam kết. Đến khoảng 11 giờ một ngày cuối tháng 11/2020, Bị cáo trực tiếp ra Bến xe khách cũ, thuộc phường T, T hồ sơ của B từ xe khách. Sau khi nhận được hồ sơ của B, Bị cáo mở hồ sơ ra xem và nói với B là đang thiếu Giấy xin chuyển công tác. Khoảng 10 giờ ngày 30/11/2020, Bị cáo nhận được giấy xin chuyển công tác từ H tại chợ T5, thuộc phường M, thành phố Đ.

Đến khoảng 10 giờ ngày 12/12/2020, anh K gọi điện thoại nói Bị cáo đến nhà anh K để nhận tiền, sau đó Bị cáo lấy Bản cam kết đã đánh máy sẵn, chưa điền nội dung. Khoảng 10 giờ 30 phút, Bị cáo đến nhà anh K, chị B tại thôn V, xã T, huyện Đ thì gặp chị B và anh K ở nhà. Trong lúc nói chuyện chị B nói mới chuẩn bị được 150.000.000 đồng và hẹn 01 tháng sau sẽ đưa nốt số tiền 60.000.000 đồng còn lại, Bị cáo nhất trí. Sau đó chị B đưa cho Bị cáo các tệp tiền bao gồm nhiều mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng và 50.000 đồng, Bị cáo đếm tiền, chị B có dùng điện thoại di động quay lại, Bị cáo nhận đủ tổng số tiền 150.000.000 đồng, đưa hai bản cam kết, rồi Bị cáo điền thông tin có nội dung “đại diện bên A là Lò Văn H, đại diện bên B là Lường Thị B. Lý do viết bản cam kết: Tôi bên A Lò Văn H, nhận chuyển nơi công tác cho bên B là (ông, bà), từ Trường mầm non N2, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên về giảng dạy và công tác tại Trường Mầm non T, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên với số tiền 210.000.000₫ đồng, trả trước 150.000.000 đồng, còn lại 60.000.00 đồng sẽ trả nốt vào ngày 31/12/2020”. Sau đó B cùng ký tên vào bản cam kết, mỗi bên cầm một bản, lúc đó chỉ có K, B và Bị cáo.

Khoảng cuối tháng 12/2020, thì chị B gọi qua Zalo cho Bị cáo để xin giảm chi phí chuyển công tác xuống 200.000.000 đồng, Bị cáo đồng ý. Đến khoảng 15 giờ, một ngày vào cuối tháng 12/2020, chị B gọi qua Zalo hẹn gặp Bị cáo tại một quán nước vỉa hè thuộc khu vực nghĩa trang A (hiện tại không nhớ quán nào), lúc này chỉ có K, B và Bị cáo. Chị B đã đưa cho Bị cáo 50.000.000 đồng và đưa Bản cam kết cho Bị cáo viết thêm bằng bút bi mực đen cuối bản cam kết “đã trả dù số tiền còn lại là 60.000.000 đồng, ký tên Lò Văn H”. Sau khi Bị cáo nhận đủ số tiền từ chị B, đến hết tháng 3/2021, nhưng chị B chưa có có Quyết định chuyển công tác như Bị cáo đã hứa hẹn, nên chị B có gọi điện thúc giục Bị cáo nhiều lần, do Bị cáo không có khả năng xin chuyển công tác được cho chị B, nên hứa hẹn hết lần này đến lần khác cho qua chuyện. Khoảng 09 giờ ngày 04/4/2021, vợ chồng anh K, chị B hẹn Bị cáo đến quán C1, nhà 6 tầng, gần quảng trường 7/5, thuộc phường M, thành phố Đ, Bị cáo hứa với anh K, chị B và trực tiếp viết một bản cam kết là sẽ sử dụng 200.000.000 đồng để xin cho B chuyển công tác về huyện Đ, nếu đến ngày 30/8/2021, mà chị B chưa có quyết định thì Bị cáo phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho vợ chồng anh K, chị B và đền bù thêm số tiền 30.000.000 đồng. Đến hết tháng 8/2021, chị B chưa nhận được Quyết định chuyển công tác, nên chị B liên tục gọi điện thoại cho Bị cáo, nhưng Bị cáo có lúc nghe máy và có lúc không nghe máy, do bị đòi nhiều Bị cáo đã chuyển cho vợ chồng anh K, chị B nhiều lần với số tiền là 8.000.000 đồng vào khoảng thời gian năm 2021 và 2022.

Do không xin chuyển công tác cho chị B và đã chi tiêu hết số tiền mà anh K, chị B đưa cho, không còn khả năng trả lại số tiền 200.000.000 đồng cho chị B, Bị cáo sợ sẽ bị liên quan đến pháp luật nên đã không liên lạc với vợ chồng anh K, chị B và không về nhà mà chỉ đi làm thuê ở các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng nhằm trốn tránh.

Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với ông Lê Hữu K1, N là Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đ ông K1 khẳng định không quen biết gì với bị cáo Lò Văn H, ông K1 không được ai nhờ giúp chuyển công tác cho chị Lường Thị B. Đồng thời làm việc với Sở Giáo dục tỉnh Đ xác nhận từ trước đến nay không có ai tên P dùng số thoại 0866.685.100, công tác tại Sở Giáo dục tỉnh Đ.

* Về hành vi Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức:

Vào tháng 10/2022, do có nhu cầu xin vào lái xe khách tại các nhà xe tỉnh Điện Biên nhưng phải đủ điều kiện có giấy phép lái xe hạng E, Bị cáo đã sử dụng facebook mang tên “Trần Duy H2” đăng nhập vào tìm kiếm trang Facebook có tên “làm giấy tờ giả” đặt mua hai giấy phép lái xe mang tên Lò Văn H và Vũ Thế Đ, Bị cáo có gửi thông tin qua M cho người sử dụng trang mạng trên (H không biết họ là ai, địa chỉ như thế nào?), hai bên thống nhất giá 1.000.000 đồng. Khoảng 07 ngày sau Bị cáo nhận được giấy phép lái xe giả, được làm bằng thẻ nhựa cứng, Bị cáo đã thanh toán tiền qua người giao hàng (Bị cáo không nhớ thuộc đơn vị nào?). Sau khi nhận được giấy phép lái xe giả, tại thời điểm đó Bị cáo không ở cố định một chỗ, thường xuyên đi phụ xe. Đến khoảng tháng 10/2023 (ngày Bị cáo không nhớ), tại nhà nghỉ P1 (sau Bến xe cũ) thuộc phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên là nơi Bị cáo thuê phòng để nghỉ, Bị cáo đã lấy Giấy phép lái xe hạng A1 của H và 02 Giấy phép lái xe hạng E giả ra để bóc tách. Bị cáo bóc tách Giấy phép lái xe hạng A1 và 02 giấy phép lái xe hạng E giả mỗi loại thành hai mặt. Sau đó Bị cáo dùng lưỡi dao lam cắt khoét phần ngày, tháng, năm thời hạn của Giấy phép lái xe hạng A1 ra tiếp đến cất phần ngày, tháng, năm thời hạn của Giấy phép lái xe hạng E giả rồi lấy mặt trước của Giấy phép lái xe hạng A1 dán vào mặt sau của Giấy phép lái xe hạng E giả bằng keo 502 còn ngày, tháng, năm của thời hạn của giấy phép lái xe giả thì Bị cáo cũng dùng keo 502 dán vào mặt trước của giấy phép lái xe thật hạng A1. Sau khi cắt ghép hoàn chỉnh mặt trước là Giấy phép lái xe thật hạng A1 của Bị cáo và mặt sau là Giấy phép gia hạng E xong. Do làm bằng tay nên các mép dán không kín, không được đẹp như thật, nên Bị cáo mang Giấy phép vừa cất ghép xong, đi bộ ra Chợ T5, TP Đ gặp một người đàn ông đi ép Plastic các loại giấy tờ ở dọc đường, Bị cáo lấy Giấy phép lái xe vừa cắt ghép xong, để ép một lớp Plastic bên ngoài cho phẳng, đẹp giống như thật. Sau khi quay lại phòng nghỉ thì Bị cáo đã vứt hết các phần thừa đi, còn để lại một phần mặt sau của Giấy phép lái xe giả, Bị cáo cất giấu trong ví da thường xuyên mang theo trong người cùng với giấy phép lái xe hạng E giả do Bị cáo cắt ghép. Sau khi làm ra Giấy phép lái xe giả thì Bị cáo chưa sử dụng, chưa xuất trình với cơ quan chức năng. Ngày 03/01/2024, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ triệu tập Bị cáo để làm việc, trong quá trình làm việc Bị cáo đã giao nộp giấy phép lái xe hạng E giả và một số giấy tờ có liên quan.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với chủ nhà nghỉ P1 là anh Lê Văn C; sinh năm 1979 trú tại Tổ B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên cung cấp, thì anh C cho biết Lò Văn H là khách quen của gia đình anh C, thường xuyên thuê phòng nghỉ. Vào khoảng tháng 09 đến tháng 10/2023, Bị cáo thường xuyên thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ P1. Đồng thời làm việc với nhà xe B4, là anh Ngọc Tiến B1; sinh năm 1981 trú tại Phường T, thành phố Đ vào thời gian cuối năm 2020 năm 2021, có thuê Bị cáo làm phụ xe, hưởng lương theo chuyến, không thuê thường xuyên, chỉ khi thiếu phụ xe mới gọi Bị cáo thay thế theo chuyến.

Ngày 03/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 10/QĐTC- CSHS và số 11/QĐTC-CSHS về giám định tài liệu; Quyết định trưng cầu giám định số: 22/QĐTC- CSHS giám định Kỹ thuật số, điện tử gửi đến Phòng kỹ thuật hình sự tỉnh Đ.

Tại bản kết luận giám định số: 156/KL- KTHS ngày 04/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Đ kết luận: Chữ viết phần nội dung và chữ viết, chữ ký đứng tên Lò Văn H trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A1, A2 với chữ viết, chữ ký đứng tên Lò Văn H trên “BẢN TỰ KHAI BẢN TƯỜNG TRÌNH" ký hiệu M là do cùng một người viết, ký ra.

Tại bản kết luận giám định số: 155/KL-KTHS ngày 04/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Đ kết luận:

  • - 01 Giấy phép lái xe hạng E, số [...] đứng tên Lò Văn H, sinh ngày: 01/02/1991, nơi thường trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021, ký hiệu A1 là giấy phép lái xe giả.

  • - 01Chứng minh thư nhân dân số [...], đứng tên Quàng Nhất L, sinh ngày: 28/3/2005, nơi ĐKHK thường trú: Chiềng Sinh, Tuần G, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020, ký hiệu A2 có phôi là phôi giấy chứng minh nhân dân thật, phần ảnh có dấu hiệu thay đổi.

  • - 01 tấm nhựa hình chữ nhật một mặt trắng, một mặt màu vàng có in nội dung dạng mặt sau của giấy phép lái xe, phần dưới cùng có in dòng chữ số: AE125484, ký hiệu A3 không phải là mặt sau là giấy phép lái xe thật.

Tại bản kết luận giám định số: 270/KL- KTHS ngày 19/01/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự tỉnh Đ kết luận:

  1. Phục hồi, trích xuất được dữ liệu điện tử trong 02 điện thoại di động mẫu A1, A2 gửi giám định, cụ thể:

    • - Dữ liệu trong Mẫu A1 có: 496 cuộc gọi; 2.577 tin nhắn SMS; 3.583 tin nhắn Messenger; 41.733 tin nhắn Zalo; 5.852 tệp tin hình ảnh; 210 tệp tin video; 57 tệp tin âm thanh và 681 tệp tin tài liệu.

    • - Dữ liệu trong Mẫu A2 có: 2.041 cuộc gọi; 2.355 tin nhắn SMS; 7.807 tin nhắn Messenger; 16.965 tin nhắn Zalo; 07 lịch sử duyệt Web Safari; 2.725 tệp tin hình ảnh; 322 tệp tin video và 16 tệp âm thanh.

  2. Không tìm thấy dữ liệu điện tử là tin nhắn Facebook Messenger trao đổi giữa tài khoản tên: Trần Duy H2 với tài khoản tên: Phương P trong kết quả phục hồi, trích xuất tại mục 1.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.

Về xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật thu giữ:

  • - 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7+, màu vàng đồng, số IMEI 1: 352808090877119, IMEI 2: 352809090877117, bên trong được lắp 01 sim điện thoại nhãn hiệu Viettel, máy cũ đã qua sử dụng (do chị Lại Thị T2 giao nộp). Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định chiếc điện thoại trên không liên quan đến vụ án. Ngày 26/1/2024, ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 1220/QĐ- ĐCSHS, trao trả tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lại Thị T2; sinh năm 1972 trú tại Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên.

  • - 01Chứng minh thư nhân dân số [...], đứng tên Quàng Nhất L; sinh ngày: 28/3/2005, nơi cư trú: Chiềng Sinh, Tuần G, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020, có phôi là phôi giấy chứng minh nhân dân thật; phần ảnh có dấu hiệu thay đổi (do Lò Văn H giao nộp). Trong thời gian đi phụ xe khách Bị cáo đã nhặt được chứng minh nhân dân của anh L, rồi cắt, dán ảnh, thay ảnh của Bị cáo vào phần ảnh trên giấy chứng minh nhân dân của Quàng N, với mục đích để đăng ký mở tài khoản ngân hàng online nhưng Bị cáo chưa thực hiện. Hành vi của Bị cáo đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngày 23/7/2024 Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn H bằng hình thức phạt tiền.

Trong quá trình điều tra, Bị cáo Lò Văn H bị thu giữ:

  • - 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng bạc, số IMEI 357274093901148; IMEI 2: 357240094252517, lắp sim số 0976.114.505, điện thoại cũ đã qua sử dụng, được niêm phong trong một phong bì màu trắng dán kín các mép, mặt trước của phong bì có dòng chữ: "PHONG BÌ NIÊM PHONG; 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone XS max, màu trắng bạc, số IMEI 357274093901148; IMEL2: 357274094252517, lắp sim số 0976.114.505, nhãn hiệu Viettel, trên mặt sim in hằng số 8984048000904924112, niêm phong ngày 19/01/2024 tại phòng KTHS Công an tỉnh Đ", mặt sau có chữ ký họ tên của Lò M, Phạm Văn T3 và 02 dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ (do Lò Văn H giao nộp). Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Lệnh nhập kho vật chứng số: 67/LNK để bảo quản theo quy định.

  • - 01 Giấy phép lái xe hạng E, số [...] đứng tên Lò Văn H; sinh ngày: 01/02/1991, nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 (do Bị cáo giao nộp) là giấy phép lái xe giả.

  • - 01tấm nhựa hình chữ nhật một mặt trắng, một mặt màu vàng có in nội dung dạng mặt sau của Giấy phép lái xe, phần dưới cùng có in dòng chữ số: AE125484, không phải là mặt sau là giấy phép lái xe thật (do Bị cáo giao nộp).

Tại bản cáo trạng số: 172/CT-VKSHĐB ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • Xử phạt bị cáo: Từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  • * Áp dụng: Khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

  • Xử phạt bị cáo: Từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, Bị cáo phải chịu từ 07 năm tù đến 07 năm 09 tháng tù.

  • Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

  • * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc Bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại chị Lường Thị B và anh Trần Văn K số tiền là: 157.000.000 đồng (trước đó Bị cáo đã trả cho chị B, anh K 8.000.000 đồng và sau khi bị bắt Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình chị B 35.000.000 đồng và đã nộp tại Chi cục THADS huyện Đ theo biên lai số: 0000133 ngày 16/4/2024).

  • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    • - Tịch thu tiêu hủy gồm:

      • + 01 Giấy phép lái xe hạng E, số [...] đứng tên Lò Văn H, sinh ngày: 01/02/1991, nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 (do Bị cáo giao nộp) là giấy phép lái xe giả.

      • + 01 tấm nhựa hình chữ nhật một mặt trắng, một mặt màu vàng có in nội dung dạng mặt sau của Giấy phép lái xe, phần dưới cùng có in dòng chữ số: AE125484, không phải là mặt sau là giấy phép lái xe thật.

      • + 01 Chứng minh thư nhân dân mang tên Quàng Nhất L

    • - Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357274093901148; IMEI 2: 357274094252517 kèm 01 Sim số 0976.114.505.

  • * Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí HSST cho Bị cáo.

Người bào chữa cho Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố, cho rằng Viện kiểm sát truy tố, Tòa án xét xử bị cáo là đúng người đúng tội, đúng quy định pháp luật. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54/BLHS cho Bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS cho Bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí HSST cho Bị cáo do Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Ý kiến tranh luận của đại diện Viện kiểm sát: Việc người bào chữa cho Bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS “ Điểm i quy định....phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng” cho Bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tài liệu chứng cứ, hành vi phạm tội của Bị cáo thấy rằng Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng cùng với tội rất nghiêm trọng khác trong cùng vụ án, do đó Viện kiểm sát không chấp nhận quan điểm của người bào chữa về việc đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS. Về các tình tiết giảm nhẹ khác, Viện kiểm sát xét thấy đề nghị của người bào chữa cho Bị cáo là có cơ sở nên cần chấp nhận.

Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng và không bổ sung thêm gì với Luận cứ bào chữa của những Người bào chữa. Thực hiện lời nói sau cùng Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lò Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng số: 172/CT-VKSHĐB ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nhưng căn cứ vào Đơn trình báo của Bị hại; Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, các biên bản nhận dạng, biên bản đối chất, biên bản xác minh, biên bản làm việc, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định về chữ viết, chữ ký; Kết luận về Trích xuất dữ liệu điện thoại; Lời khai của các Bị hại, những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai của Bị cáo trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Lò Văn H đã có hành vi gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, hứa hẹn xin cho chị Lường Thị B chuyển công tác để chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng, mục đích là để chi tiêu cá nhân, cụ thể: Bị cáo H đã có hành vi gian dối, hứa hẹn, đưa ra những thông tin không đúng sự thật để xin cho chị B chuyển công tác từ Trường mầm non tại xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên về Trường mầm non xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên và nói chị B chuẩn bị tiền, bộ hồ sơ, nếu không được việc H sẽ trả lại tiền cho chị B. Để cho chị B tin tưởng H đã viết cho chị B 02 bản cam kết. Quá trình điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ từ ông Lê Hữu K1, nguyên là Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Đ ông K1 khẳng định không quen biết gì với bị cáo Lò Văn H, ông K1 không được ai nhờ giúp chuyển công tác cho chị Lường Thị B. Đồng thời làm việc với Sở Giáo dục tỉnh Đ xác nhận từ trước đến nay không có ai tên P dùng số thoại 0866.685.100, công tác tại Sở Giáo dục tỉnh Đ nhưng H lại gian dối đưa ra những thông tin không đúng sự thật để chị B tin tưởng là có thể xin chuyển công tác về huyện Đ được, nên đã tự nguyện giao số tiền 200.000.000 đồng cho Bị cáo.

Như vậy Bị cáo đã thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý trực tiếp, cụ thể đó là ngay từ đầu Bị cáo đã chủ động đưa ra những thông tin gian dối, để gia đình B2 hại tin tưởng giao tiền cho Bị cáo; khi nhận tiền tiếp tục có hành vi gian dối như cố tình trì hoãn, trốn tránh; khi chiếm đoạt được tiền, biết rằng không thực hiện được việc chuyển công tác cho Bị hại, Bị hại đòi tiền Bị cáo lại tiếp tục quanh co, cố tình không trả, lời khai này của Bị cáo là gian dối. Bị cáo biết được hậu quả đó là tài sản của chị Binh b chiếm đoạt trái là pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi trên của Bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 174 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; ...”

Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Lò Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng số: 172/CT-VKSHĐB ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên nhưng căn cứ vào biên bản xác minh, biên bản làm việc, vật chứng thu giữ; Kết luận giám định về chữ viết, chữ ký và lời khai của Bị cáo trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 10/2023 trên địa bàn thành phố Đ, tỉnh Điện Biên, bị cáo Lò Văn H đã có hành vi mua 02 giấy phép lái xe giả hạng E để cắt ghép cùng với giấy phép lái xe hạng A1 thật để tạo thành một giấy phép lái xe hạng E giả mang tên Lò Văn H với mục đích xin vào lái xe khách. Bị cáo đã thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý trực tiếp, biết được việc làm giả tài liệu là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi trên của Bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 341 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.”

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn H về các tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự và "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hội đồng xét xử nhận định: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho Bị cáo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản là nguy hiểm cho xã hội và đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Điện Biên nói chung và địa bàn huyện Đ nói riêng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội ở giai đoạn tội phạm đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ mục đích vụ lợi cá nhân.

Bên cạnh đó Bị cáo còn có hành vi hành vi mua 02 giấy phép lái xe giả hạng E để cắt ghép cùng với giấy phép lái xe hạng A1 thật để tạo thành một giấy phép lái xe hạng E giả mang tên Bị cáo với mục đích xin vào lái xe khách. Bị cáo đã thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý trực tiếp, việc lái xe an toàn về tính mạng cũng như tài sản trên các phương tiện là rất quan trọng và cấp bách, Bị cáo biết được việc làm đó là trái pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, với các hành vi trên của Bị cáo, HĐXX thấy rằng cần xử phạt Bị cáo nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với Bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên được gia đình nuôi dưỡng học hết lớp 12/12 thì nghỉ học làm nghề tự do. Tiền án; tiền sự: Không.

  • - Về tình tiết tăng năng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trong quá trình chưa bị khởi tố Bị cáo đã trả cho chị B, anh K số tiền là 8.000.000 đồng trong tổng số Bị cáo nhận của gia đình chị B, anh K là 200.000.000 đồng. Giai đoạn điều tra, ngày 16/4/2024 Bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường số tiền 35.000.000 đồng và đã nộp tại Chi cục HADS huyện Đ theo biên lai số: 0000133 ngày 16/4/2024, ngoài ra Bị cáo có ông N1 là Lò Văn T4 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng Điều 54 BLHS đối với Bị cáo với tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản", áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự với tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" để thể hiện chính sách pháp luật khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội.

Việc đề nghị của Người bào chữa đối với Bị cáo HĐXX thấy rằng Người bào chữa đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54/BLHS cho Bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS cho Bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí HSST cho Bị cáo do Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận. Người bào chữa cho Bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51/BLHS“ Điểm i quy định....phạm tội lần đầu và ít nghiêm trọng” cho Bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” hành vi của Bị cáo đã rõ ràng, Bị cáo phạm tội cùng với tội rất nghiêm trọng khác trong cùng vụ án. Vì vậy đề nghị của Người bào chữa HĐXX không chấp nhận.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với Bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 174/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 341/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo làm tự do, không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án:

[5.1] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại chị Lường Thị B; anh Trần Văn K yêu cầu Bị cáo phải bồi thường số tiền 192.000.000 đồng (Trong quá trình chưa bị khởi tố Bị cáo đã trả cho chị B, anh K số tiền là 8.000.000 đồng trong tổng số Bị cáo nhận của gia đình chị B, anh K là 200.000.000 đồng). Tại giai đoạn điều tra, ngày 16/4/2024 Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục một phần hậu quả thay cho bị cáo được 35.000.000 đồng và đã nộp tại Chi cục THADS huyện Đ theo biên lai số: 0000133 ngày 16/4/2024, Bị cáo nhất trí sẽ bồi thường tiếp cho chị B, anh K số tiền còn lại là 157.000.000 đồng. Mặc dù gia đình chị B và anh K chưa đến Chi cục THADS huyện Đ số tiền trên nhưng HĐXX thấy rằng việc Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục bồi thường một phần thiệt hại không trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Lò Văn H phải có trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại chị Lường Thị B, anh Trần Văn K số tiền còn lại là: 157.000.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra Bị hại yêu cầu Bị cáo phải bồi thường 192.000.000 đồng, Bị cáo cùng hoàn toàn nhất trí và không có ý kiến gì. Căn cứ vào điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

[5.2] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng được xử lý như sau:

  • - Tịch thu tiêu hủy gồm:

    • + 01 Giấy phép lái xe hạng E, số [...] đứng tên Lò Văn H, sinh ngày: 01/02/1991, nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 (do Bị cáo giao nộp) là giấy phép lái xe giả.

    • + 01 tấm nhựa hình chữ nhật một mặt trắng, một mặt màu vàng có in nội dung dạng mặt sau của Giấy phép lái xe, phần dưới cùng có in dòng chữ số: AE125484, không phải là mặt sau là giấy phép lái xe thật.

    • + 01 giấy chứng minh thư nhân dân số [...], đứng tên Quàng Nhất L, sinh ngày: 28/3/2005, nơi ĐKHK thường trú: Chiềng Sinh, Tuần G, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020, ký hiệu A2 có phôi là phối giấy chứng minh nhân dân thật; phần ảnh có dấu hiệu thay đổi, không còn giá trị sử dụng.

    • + Đối với 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357274093901148; IMEI 2: 357274094252517 kèm 01 Sim số 0976.114.505, nhãn hiệu V. Qua điều tra xác minh, điện thoại dùng để phạm tội đã hỏng, Bị cáo vứt đi mua chiếc điện thoại này, từ khi mua chiếc điện thoại trên, Bị cáo không dùng để giao dịch hay liên quan đến hành vi phạm tội. HĐXX xét thấy cần trả lại cho Bị cáo.

Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7+, màu vàng đồng, số IMEI 1: 352808090877119, IMEI 2: 352809090877117, bên trong được lắp 01 sim điện thoại nhãn hiệu V, máy cũ đã qua sử dụng của Cơ quan cảnh sát điều tra cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lại Thị T2, sinh năm 1972 trú tại Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên.

Ngày 23/7/2024, Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPVPHC-HS đối với Lò Văn H về hành vi Sửa chữa làm sai lệch nội dung của Giấy Chứng minh nhân dân số [...], đứng tên Quàng Nhất L, sinh ngày: 28/3/2005, nơi ĐKHK thường trú: Chiềng Sinh, Tuân G1, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020, được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021, Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội, Phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ; Phòng, chống bạo lực gia đình. Mức phạt: 1.500.000 đồng. HĐXX cần chấp nhận.

[6] Các vấn đề khác:

[6.1] Đối với chị Lại Thị T2, sinh năm 1972 trú tại Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên là người bị cáo H khai tên là P, có quan hệ tình cảm, yêu nhau trên mạng xã hội, nhưng hai bên chưa gặp mặt nhau lần nào, với nội dung: Sau khi trao đổi với Trần Văn K xong, thì Bị cáo có gọi điện cho P, trao đổi nội dung xin chuyển công tác cho chị Lường Thị B, P nói có thể giúp B chuyển công tác, chi phí chuyển công tác là 120.000.000 đồng, chưa tính quà biếu, Bị cáo nhất trí, thống nhất sẽ đưa 150.000.000 đồng cho P trao đổi để Bị cáo bảo với B làm đầy đủ hồ sơ rồi chuyển cho P. Đến khoảng 16 giờ một ngày giữa 12/2020, Bị cáo có gọi điện thoại qua M cho P để chuyển hồ sơ và tiền cho P, nên hai bên thống nhất, gửi hồ sơ và tiền tại Bến xe khách cũ. Sau đó Bị cáo cho số tiền 150.000.000 đồng, cùng với một số giấy tờ của B, vào trong túi hồ sơ có bìa màu trắng, rồi dán kín lại. Bị cáo gửi túi hồ sơ trong đó có 150.000.000 đồng cho một người phụ nữ, khoảng 40 tuổi bán nước (Bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại quán nước trong Bến xe khách tỉnh Đ (Bến xe cũ). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định, tuy nhiên không có đủ cơ sở xác định chị Thông đồng p với Bị cáo trong vụ án Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý. HĐXX không xem xét xử lý.

[6.2] Đối với chị Lò Thị H1, sinh năm 1998 trú tại Bản N, xã N, huyện N, tỉnh Điện Biên là người quen biết với Bị cáo, có cung cấp cho chị Lường Thị B3 số điện thoại của Bị cáo. Việc chị H1 không biết Bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không giúp sức, không được hưởng lợi gì trong vụ việc trên, nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý. HĐXX không xem xét xử lý.

[6.3] Đối với tài khoản trang mạng xã hội Facebook “Làm giấy tờ giả" đã nhận làm giấy phép lái xe hạng E giả cho bị cáo Lò Văn H, do Bị cáo không nhận ra được thông tin của chủ tài khoản, do đó Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, xác minh làm rõ, nên không có cơ sở để xem xét xử lý. HĐXX không xem xét xử lý.

[6.4] Đối với anh Quàng Nhất L, sinh ngày: 28/3/2005, nơi ĐKHK thường trú: Chiềng Sinh, Tuần G, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020. Vào năm 2021, anh L có đi xe khách tuyến Điện Biên - Hà Nội thì bị thất lạc trên xe khách nhà xe B4. Qua xác minh anh L không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý. HĐXX không xem xét xử lý.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

[7.1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[7.2] Về sự vắng mặt của các Bị hại; những Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan.

Xét thấy các Bị hại; những Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình điều tra Bị hại; những Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Nên Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt các Bị hại và những Người có quyền lợi nghĩ vụ liên quan theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Tại cơ quan điều tra bị hại chị Lường Thị B; anh Trần Văn K yêu cầu Bị cáo phải bồi thường số tiền 192.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường và không có ý kiến gì. Theo quy định tại điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Bị cáo không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Tại phiên toà Bị cáo có đơn xin HĐXX xem xét miễn án phí cho Bị cáo. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí HSST cho Bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và Khoản 1 Điều 341; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

    Tuyên bố:

    Bị cáo Lò Văn H phạm các tội: Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

    • - Xử phạt Bị cáo: 06 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

    • - Xử phạt Bị cáo: 06 tháng tù về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

    Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội, buộc Bị cáo phải chịu hình phạt chung là: 07 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (05/01/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền của 02 tội đối với Bị cáo.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, khoản 1 Điều 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự.

    Buộc Bị cáo phải bồi thường cho các bị hại chị Lường Thị B; anh Trần Văn K tổng số tiền là:192.000.000 đồng. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường được 35.000.000 đồng và đã nộp tại Chi cục THADS huyện Đ theo biên lai số: 0000133 ngày 16/4/2024. Bị cáo còn phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lường Thị B và anh Trần Văn K số tiền còn lại là: 157.000.000 đồng.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu tiêu hủy gồm:

      • + 01 Giấy phép Lái xe hạng E, số [...] đứng tên Lò Văn H, sinh ngày: 01/02/1991, nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 14/10/2021 (do Bị cáo giao nộp) là giấy phép lái xe giả.

      • + 01 Chứng minh thư nhân dân số [...], đứng tên Quàng Nhất L, sinh ngày: 28/3/2005, nơi ĐKHK thường trú: Chiềng Sinh, Tuần G, Điện Biên do Công an tỉnh Đ cấp ngày 03/8/2020, ký hiệu A2 có phôi là phôi giấy chứng minh nhân dân thật; phần ảnh có dấu hiệu thay đổi, đã hết giá trị sử dụng.

      • + 01 tấm nhựa hình chữ nhật một mặt trắng, một mặt màu vàng có in nội dung dạng mặt sau của Giấy phép lái xe, phần dưới cùng có in dòng chữ số: AE125484, không phải là mặt sau là giấy phép lái xe thật.

    • (Tất cả các vật chứng tịch thu tiêu hủy trên đều được niêm phong bằng 01 phong bì của phòng K Công an tỉnh Đ, mặt trước của phong bì có các dòng chữ in nghiêng...........)

    • - Trả lại cho Bị cáo: 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng bạc, số IMEI 1: 357274093901148; IMEI 2: 357274094252517 kèm sim số 0976.114.505, điện thoại cũ đã qua sử dụng.

    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

    Chấp nhận việc trả lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7+, màu vàng đồng, số IMEI 1: 352808090877119, IMEI 2: 352809090877117, bên trong được lắp 01 sim điện thoại nhãn hiệu V, máy cũ đã qua sử dụng của Cơ quan cảnh sát điều tra cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lại Thị T2, sinh năm 1972 trú tại Tổ A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí HSST cho Bị cáo.

  5. Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự - người phải thi hành dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024).

    Những Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án.

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Công an trại tạm giam;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 220/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và 06 năm tù về tội làm giả con dấu cơ quan tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger