Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 220/2024/HS-ST

Ngày: 11-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Quang Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • 2/ Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Hồ Quang H (tên gọi khác: Huy C), sinh năm 2001, tại tỉnh Đồng Tháp; HKTT: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Quang M, sinh năm 1967 và bà Lê Thị B, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 01/02/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 13/9/2018, chấp hành án tại Trại tạm giam Long Hòa đến ngày 15/05/2021 thì chấp hành xong. Bị cáo H chấp hành xong phần án phí ngày 09/4/2019; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
  2. Họ và tên: Quách Hoàng H1, sinh năm 1998, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: Ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: Khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Hoàng T, sinh năm 1976 và bà Phan Thị B1, sinh năm1980; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại:

  • Ông Lê Minh T1, sinh năm 1987; HKTT: Tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1987; HKTT: Thôn E, xã N, huyện C, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở: Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hồ Thanh A, sinh năm 1992, HKTT: 183/7/3 ĐX 122, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Hồ Quang H và bị cáo Quách Hoàng H1 là bạn bè với nhau. Cả hai đều là đối tượng nghiện ma túy đá và không có nghề nghiệp. Khoảng đầu tháng 11/2023, bị cáo H và bị cáo H1 đến thuê phòng số 02 của nhà nghỉ C1, thuộc khu phố B, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương để ở.

Khoảng 18 giờ ngày 05/11/2023, bị cáo H điều khiển xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ-đen, biển số 66P1-429.85 chở bị cáo H1 đến nhà bạn của bị cáo H1 tại khu vực xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương) chơi. Khi đi, bị cáo H mang theo một túi da màu đen, bên trong túi có 02 cây đoản kim loại màu trắng, dẹp (dài 09cm), 01 con dao (dài 28cm, lưỡi dao bằng kim loại có đầu nhọn, sắc dài 16cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 12cm), 01 chìa khóa hai đầu (một đầu dày 10mm, một đầu dày 14mm), 02 chìa khóa kim loại hình lục giác; bị cáo H1 mang theo một túi vải màu xanh, bên trong có 02 con dao quắm hình cung (lưỡi bằng kim loại sắc, nhọn, màu đỏ, dài 11cm, cán bằng bằng nhựa màu đen, dài 10cm). Khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo H1 điều khiển xe chở bị cáo H về ngang qua quán B2 cạnh đường Đ, thuộc ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương) thì bị cáo H nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61B1- 566.02 của ông Lê Minh T1 đang dựng trước quán, không có người trông coi. Lúc này, bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm xe đem bán lấy tiền tiêu xài nên bị cáo H nói bị cáo H1 dừng xe lại đứng bên đường cảnh giới, để bị cáo H đi vào lấy trộm xe mô tô biển số 61B1- 566.02 thì bị cáo H1 đồng ý. Sau đó, bị cáo H lén lút đi lại chỗ xe mô tô 61B1- 566.02 dùng cây đoản mang theo đút vào ổ khóa xe bẻ khóa. Vừa lúc này, ông T1 đi ra phát hiện tri hô nên bị cáo H bỏ chạy lại xe mô tô biển số 66P1-429.85 ngồi lên để H1 điều khiển xe chạy trốn. Ông T1 chạy bộ đuổi theo và tiếp tục tri hô “Cướp, cướp” thì ông Nguyễn Văn N đang ở gần đó cùng với người dân ra đứng chặn xe mô tô của bị cáo H1 lại thì bị cáo H1 điều khiển xe chở bị cáo H rẽ vào đường H 091. Lúc này, ông N điều khiển xe mô tô của mình chở ông T1 đuổi theo bị cáo H1 và H. Khi bị cáo H1 điều khiển xe chở bị cáo H chạy được khoảng 80m thì gặp đường cụt nên bị cáo H1 điều khiển xe quay ngược trở lại thì bị ông N điều khiển xe chặn lại làm các bị cáo H1 và H bị ngã xuống đường. Các bị cáo bỏ lại xe mô tô bỏ chạy thì ông T1 và ông N chạy bộ đuổi theo. Khi ông T1 đuổi kịp bị cáo H thì bị cáo H lấy 01 cây gậy 03 khúc trong túi đeo theo trên người đánh trúng ngón tay út ông T1 nên ông T1 lùi người lại rồi quay sang đuổi theo bị cáo H1, còn ông N đuổi theo bị cáo H. Khi ông N vừa đuổi kịp bị cáo H thì bị cáo H vứt bỏ cây gậy 03 khúc rồi lấy từ trong túi đeo trên người ra 01 con dao cầm trên tay phải đâm trúng hông bên trái của ông N rồi tiếp tục bỏ chạy theo bị cáo H1. Ông N và ông T1 tiếp tục đuổi theo bị cáo H và bị cáo H1 đồng thời tri hô thì những người dân xung quanh đã ra hỗ trợ, khống chế và bắt giữ được bị cáo H và bị cáo H1. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ-đen, biển số 66P1-429.85; 01 túi da màu đen, có hoa văn hiệu Lovis; 02 đoản bằng kim loại màu trắng, dẹp, kích thước 09cm; 01 con dao dài 28cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm; 01 cây gậy 03 khúc; 01 cờ lê 10-14; 02 chìa khóa lục giác; 01 túi vải màu xanh, hiệu Jinpaidi; 02 con dao hình cung dài 21cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi màu đỏ dài 11cm.
  • 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, đen, biển số 61B1- 566.02.

* Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã (nay là thành phố) B, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng, đen, biển số 61B1- 566.02, trị giá 9.950.000 đồng.

* Ngày 06/11/2023, bị hại ông Nguyễn Văn N có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và giám định thương tích. Theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 124/2024/KLGĐ-TTPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh B, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của ông Nguyễn Văn N là 01%, theo bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo thông tư số 22/2019/TT-BYT do Bộ Y ban hành ngày 28/8/2019.

Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn N yêu cầu bị cáo Hồ Quang H bồi thường chi phí chữa bệnh số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo H đồng ý bồi thường nhưng hiện chưa có tiền.

* Về xử lý vật chứng:

- Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Honda Wave, màu trắng đen, biển số 61B1- 566.02 do ông Hồ Thanh A đứng tên đăng ký. Khoảng đầu năm 2023, ông A đã cho ông T1 xe mô tô biển số 61B1- 566.02. Ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý vật chứng giao trả xe mô tô biển số 61B1- 566.02 cho ông T1.

- Quá trình điều tra xác định, xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ-đen, biển số 66P1-429.85 do ông Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1979, nơi thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp) đứng tên đăng ký. Hiện tại ông T2 không có mặt tại địa phương nên không làm việc được. Bị cáo H khai: Khoảng đầu năm 2023, bị cáo H mua xe của 01 người đàn ông không rõ lai lịch với giá 3.000.000 đồng.

* Tại Cáo trạng số 223/CT-VKSBC ngày 12/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “ Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Quách Hoàng H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 173; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Quang H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Quang H từ 08 tháng đến 10 tháng tù.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quách Hoàng H1 từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 túi da màu đen có in chữ Lovis; 02 đoản bằng kim loại màu trắng, dẹp, kích thước 09cm; 01 con dao dài 28cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm; 01 cây gậy ba khúc; 01 cờ lê 10-14; 02 chìa khóa lục giác; 01 túi vải màu xanh có in chữ Jinpaidi; 02 con dao hình cung dài 21cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi màu đỏ dài 11cm;
  • Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ đen, biển số 66P1-429.85 của bị cáo H.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hồ Quang H phải bồi thường chi phí chữa bệnh cho ông Nguyễn Văn N số tiền 5.000.000 đồng.

* Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Quang H và Quách Hoàng H1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số 223/CT-VKSBC ngày 12/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân nhân thành phố B, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 05/11/2023, tại trước quán B2, cạnh đường Đ, thuộc ấp A, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương), bị cáo Quách Hoàng H1 đã đứng cảnh giới cho bị cáo Hồ Quang H lén lút thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 61B1- 566.02 của ông Lê Minh T1 trị giá 9.950.000 đồng nhằm mục đích đem bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. Khi bị cáo H đang lén lút bẻ khóa xe mô tô biển số 61B1- 566.02 thì bị ông T1 phát hiện tri hô nên bị cáo H và bị cáo H1 bỏ chạy. Ông T1 và ông Nguyễn Văn N truy đuổi theo bị cáo H và bị cáo H1 thì bị cáo H đã dùng cây gậy 03 khúc đánh trúng vào tay của bị hại ông T1 nhưng không gây thương tích và sau đó dùng dao đâm trúng vào hông trái bị hại ông N gây thương tích cho bị hại ông N với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01%. Hành vi trên của bị cáo Hồ Quang H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và tội “ Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Hành vi trên của bị cáo Quách Hoàng H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng số 223/CT-VKSBC ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Hồ Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Quách Hoàng H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về lỗi và tính chất, mức độ tội phạm:

[3.1] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[3.2] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo H và bị cáo H1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý nhưng vì tham lam, tư lợi, lười lao động và muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, hành vi trên của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[3.3] Các bị cáo trộm cắp tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản là do sự cảnh giác của bị hại ông T1. Khi bị hại ông T1 phát hiện bị cáo H dùng cây đoản mang theo đút vào ổ khóa xe bẻ khóa thì truy hô làm các bị cáo bỏ chạy, chưa lấy được tài sản nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt theo quy định tại các điều 15, 57 của Bộ luật Hình sự. Đối với tội trộm cắp tài sản, vụ án có tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn; các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên không xem là phạm tội có tổ chức. Bị cáo H là người nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, bị cáo H là người trực tiếp thực hiện tội phạm và bị cáo H1 là người đứng cảnh giới giúp sức cho bị cáo H nên căn cứ vào quy định tại các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để phân hóa vai trò, cá thể hóa trách nhiệm hình sự.

[3.4] Hành vi gây cố ý thương tích cho bị hại ông N của bị cáo H đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, hành vi trên của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm với mức án tù có thời hạn, tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, cũng như giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như: Bị cáo Hồ Quang H và bị cáo Quách Hoàng H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Hồ Quang H có nhân thân xấu.

[7] Các bị cáo phải chấp hành mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

[8.1] Đối với: 01 túi da màu đen, có hoa văn hiệu Lovis; 02 đoản bằng kim loại màu trắng, dẹp, kích thước 09cm; 01 con dao dài 28cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm; 01 cây gậy 03 khúc; 01 cờ lê 10-14; 02 chìa khóa lục giác; 01 túi vải màu xanh, hiệu Jinpaidi; 02 con dao hình cung dài 21cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi màu đỏ dài 11cm. Xét, đây là công cụ phương tiện của bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

[8.2] Đối với 01 xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ đen, biển số 66P1-429.85. Xét đây là phương tiện của bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại N yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[10] Xét ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và điều luật áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 và 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
  • Căn cứ Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hồ Quang H phạm hai tội Trộm cắp tài sản (phạm tội chưa đạt) và tội Cố ý gây thương tích.

Tuyên bố bị cáo Quách Hoàng H1 phạm tội Trộm cắp tài sản (phạm tội chưa đạt).

2. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 173; Điều 15; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hồ Quang H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Hồ Quang H 08 (tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

- Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Quang Huy phải chấp hành chung cho cả 02 tội là 03 (ba) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 15; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 57; Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Quách Hoàng H1 01 (một) năm tù về Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hồ Quang H bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi da màu đen có in chữ Lovis; 02 đoản bằng kim loại màu trắng, dẹp, kích thước 09cm; 01 con dao dài 28cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 16cm, cán bằng nhựa màu đen dài 12cm; 01 cây gậy ba khúc; 01 cờ lê 10-14; 02 chìa khóa lục giác; 01 túi vải màu xanh có in chữ Jinpaidi; 02 con dao hình cung dài 21cm, có cán bằng nhựa màu đen dài 10cm, lưỡi màu đỏ dài 11cm;

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wand, màu đỏ, đen, biển số 66P1-429.85 (số máy RRSWD152FMH0003251 số khung 003251, xe không gương bên phải, không chìa khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được);

(Vật chứng nêu trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát).

5. Án phí:

- Buộc bị cáo Hồ Quang H và Quách Hoàng H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Hồ Quang H phải nộp 250.000 (hai trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 11/9/2024).

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Công an thành phố Bến Cát;
  • - CCTHA thành phố Bến Cát;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VVăn Quang Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự: trộm cắp tài sản và cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 220/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger