Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 220/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06 – 6 – 2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Phước Tân;
  2. Ông Lê Hữu Danh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Huynh - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 119/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 247/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 288/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Trần Văn K vắng mặt không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Nguyễn Thị D; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn K tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 (theo bản sao Trích lục kết hôn số: 95/TLKH-BS ngày 16/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện A). Sau khi kết hôn, bà D và ông K chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông K không chăm lo cho gia đình, có hành vi bạo lực gia đình. Gia đình hai bên lúc đầu cũng có động viên, khuyên nhủ nhưng mâu thuẫn không giảm bớt. Bà D và ông K không còn chung sống từ năm 2021 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: Có 02 con chung tên: Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010 và Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015. Cháu K1 hiện đang sống chung với bà D, cháu P hiện đang sống chung với ông K. Bà D yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K1 và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con. Bà D đồng ý giao cháu P cho ông K được tiếp tục nuôi dưỡng và bà D không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông Trần Văn K để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 22/4/2024 nhưng ông K vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K, ông K cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Ngày 22/4/2024, bà D có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận đi làm ăn xa.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị D giao nộp: Trích lục kết hôn số 95/TLKH-BS ngày 16/02/2024 (bản sao); Giấy khai sinh Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010 và Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015 (bản sao); Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị D (bản photo).

Các tài liệu, chứng cứ do ông Trần Văn K giao nộp: Không.

Các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lời khai người làm chứng; biên bản xác minh; biên bản ghi nhận ý kiến con chung.

Tại phiên tòa, do bà D và ông K đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 22/4/2024, bà Nguyễn Thị N cho biết: Bà N là chị ruột của bà Nguyễn Thị D, kể từ khi bà D ly thân với ông K thì bà D chung sống với bà N nên bà N biết rõ mâu thuẫn gia đình của bà D và ông K. Bà D và ông K chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân nhau từ năm 2021 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm, ông K cũng không đến nhà thăm con chung. Quá trình chung sống, ông K và bà D có 02 con chung tên: Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010 hiện đang sống chung với bà D và Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015 hiện đang sống chung với ông K.

Theo biên bản xác minh ngày 03/5/2024, bà Phạm Thị Mỹ D1 cho biết: Bà D1 là mẹ ruột của ông K. Bà D1 thống nhất với lời trình bày của bà D về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng, quá trình sống ly thân, con chung như lời bà D trình bày. Bà D1 có nhận thay ông K các văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo cho ông K biết.

Theo Biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên, cháu Trần Anh K1 có nguyện vọng sống cùng bà D, cháu Trần Vĩnh P có nguyện vọng sống cùng ông K1.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị D; về con chung, đề nghị giao con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010 cho bà D được trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung tên Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015 cho ông K được trực tiếp nuôi dưỡng, cả hai không phải cấp dưỡng qua lại để nuôi dạy con chung; về tài sản chung và nợ chung, bà D khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không đề cập giải quyết. Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định, ông K không phải chịu án phí.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng:

    Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Trần Văn K đều vắng mặt không rõ lý do; đồng thời ông K đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Như vậy ông K đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố Tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết:

    Ông Trần Văn K có nơi thường trú tại: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  3. [3] Về nội dung vụ án:
    1. [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn K tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 (theo bản sao Trích lục kết hôn số 95/TLKH-BS ngày 16/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang). Cả hai chung sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Gia đình hai bên đã động viên, khuyên nhủ nhưng do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cả hai không thể hàn gắn. Bà D và ông K không còn chung sống từ năm 2021 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
    2. [3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà D và ông K có 02 con chung tên: Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010 và Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015. Cháu K1 hiện đang sống chung với bà D, cháu P hiện đang sống chung với ông K.

      Sau khi xem xét nguyện vọng của con chung, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để bà D được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010, ông K được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015. Bà D và ông K không phải cấp dưỡng qua lại để nuôi dạy con chung.

      Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà D về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà D vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi cháu K1, cũng như việc bà D không cấp dưỡng để ông K nuôi cháu P. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà D trong việc không yêu cầu cả hai phải cấp dưỡng qua lại để nuôi dạy con chung.

      Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Ông Trần Văn K cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Nguyễn Thị D đối với cháu Trần Anh K1. Ngược lại, bà Nguyễn Thị D cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Trần Văn K đối với cháu Trần Vĩnh P. Bà D và ông K cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở lẫn nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

      Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

    3. [3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này ông K có yêu cầu về tài sản chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
  4. [4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông Trần Văn K không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
  5. [5] Về quyền kháng cáo: Bà D và ông K có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; các điều 147, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị D được ly hôn với ông Trần Văn K.
  2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị D được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Anh K1, sinh ngày 31/3/2010. Ông Trần Văn K được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Vĩnh P, sinh ngày 24/12/2015. Bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn K không phải cấp dưỡng qua lại để nuôi dạy con chung.

    Ông Trần Văn K cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Nguyễn Thị D đối với cháu Trần Anh K1. Ngược lại, bà Nguyễn Thị D cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Trần Văn K đối với cháu Trần Vĩnh P. Bà D và ông K cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở lẫn nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009376 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.

    Ông Trần Văn K không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Nguyễn Thị D và ông Trần Văn K. Bà D và ông K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
  5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Phú Hội,
  • huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 220/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 220/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Diệu và ông Trần Văn Khiêm tự tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào năm 2008, có đăng ký kết hôn vào năm 2015 (theo bản sao Trích lục kết hôn số: 95/TLKH-BS ngày 16/02/2024 của Ủy ban nhân dân xã Phú Hội, huyện An Phú). Sau khi kết hôn, bà Diệu và ông Khiêm chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông Khiêm không chăm lo cho gia đình, có hành vi bạo lực gia đình. Gia đình hai bên lúc đầu cũng có động viên, khuyên nhủ nhưng mâu thuẫn không giảm bớt. Bà Diệu và ông Khiêm không còn chung sống từ năm 2021 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Do tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà Diệu yêu cầu được ly hôn với ông Khiêm. Về con chung: Có 02 con chung tên: Trần Anh Kiệt, sinh ngày 31/3/2010 và Trần Vĩnh Phú, sinh ngày 24/12/2015. Cháu Kiệt hiện đang sống chung với bà Diệu, cháu Phú hiện đang sống chung với ông Khiêm. Bà Diệu yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kiệt và không yêu cầu ông Khiêm cấp dưỡng nuôi con. Bà Diệu đồng ý giao cháu Phú cho ông Khiêm được tiếp tục nuôi dưỡng và bà Diệu không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger