TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 220/2024/DS-ST
Ngày: 05-7-2024
V/v: “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt
hành vi cản trở quyền của người sử
dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc Việt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hữu Tấn và bà Phan Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Nhựt - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 609/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 360/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1945.
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1952.
Cùng địa chỉ: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Bị đơn:
- Ông Lê Hoàng M, sinh năm 1959.
- Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1955.
Cùng địa chỉ: Số A, Tổ A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa có mặt ông H, bà T, ông M; vắng mặt bà K)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Ông H, bà T có phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giáp ranh với ông M, bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H và ông M là bà con chú bác ruột, khi ông M cất nhà giữa hai bên có mâu thuẫn nên khi ông H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông M, bà K không ký tứ cận, cản trở đo đạc nên Văn phòng Đ chi nhánh L có văn bản số 356/CNLX-KT ngày 05 tháng 5 năm 2023 ngừng việc thực hiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà.
Ông M bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.024473gA do UBND thành phố L cấp ngày 07/9/2006, thửa số 11, tờ bản đồ 29, diện tích 60,6 m². Hồ sơ kỹ thuật cấp kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được lập ngày 23/8/2006 thể hiện rõ hình thể thửa đất, nên không có lý do gì ngăn cản việc ông H, bà T đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giáp ranh ông M, bà K thì ông H, bà T đã xây dựng hàng rào kiên cố, khi xây dựng thì ông M, bà K cũng thống nhất cho xây dựng để ngăn cách ranh giới giữa hai thửa đất.
Ông H, bà T yêu cầu ông M, bà K chấm dứt hành vi cản trở việc ông H, bà T kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (chấm dứt hành vi cản trở đo đạc, không ký tứ cận.....) đối với giáp cận tại các điểm 21, 10, 53 theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đai chi nhánh L lập ngày 16/4/2024 để ông H, bà T được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu công nhận cho H, bà T đối với diện tích 325 m², ông H, bà T rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Hoàng M và bà Nguyễn Thị K trình bày:
Ông M, bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 60,6 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.024473gA do UBND thành phố L cấp ngày 07/9/2006, thửa số 11, tờ bản đồ 29. Trên diện tích đất ông bà đã cất nhà hết diện tích đất, giáp ranh ông thì ông H, bà T xây dựng hàng rào kiên cố nhưng khi xây dựng nói để chống trộm nên ông bà cho xây dựng mà không có ý kiến tranh chấp.
Ông M, bà K không tranh chấp quyền sử dụng đất với ông H, bà T, ông bakhông đồng ý cứ tứ cận chỉ đơn giản ông H, bà T phải chừa lối đi chung giáp nhà ông 2 m, dài khoảng 13 m thì ông sẽ ký tứ cận cho ông H, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Mục đích ông yêu cầu chừa lại lối đi chung để khi nhà ông bà có hư hỏng thì có thể sửa chữa được. Ông bà không đồng ý ký tứ cận cho ông H, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án phù hợp quy định pháp luật. Đồng thời, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn phù hợp quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất của nguyên đơn. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu công nhận diện tích 325 m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, đây là tranh chấp dân sự theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố L, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bà Nguyễn Thị K được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Đình chỉ đối với yêu cầu công nhận cho H, bà T đối với diện tích 325 m², ông H, bà T rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bị đơn ông M, bà K đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 60,6 m², theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.024473gA do UBND thành phố L cấp ngày 07/9/2006, thửa số 11, tờ bản đồ 29. Hồ sơ kỹ thuật kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện rõ hình thể khu đất không tiếp giáp lối đi chung. Ông M trình bày cha ông và cha ông Hòn khi sống có hứa hẹn chừa lối đi chung, nhưng ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ông H, bà T không thừa nhận có lời hứa hẹn, không đồng ý chừa lối đi chung. Việc thống nhất ranh được thể hiện khi ông bà xây dựng hàng rào ranh kiên cố thì ông M, bà K thống nhất cho xây dựng, phần đất này do ông bà quản lý sử dụng ổn định và đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Xét thấy, việc ông M, bà K yêu cầu chừa lại một phần đất giáp nhà ông để ông bà thuận lợi sửa chữa nhà khi có hư hỏng thì ông bà sẽ ký tứ cận cho ông H, bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không hợp lý, không có căn cứ. Ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chỉ được sử dụng trong phạm vi ranh giới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hồ sơ kỹ thuật khu đất đã được công nhận.
[2.2] Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/02/2024, bản trích đo hiện khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 16/4/2024 (số lưu hồ sơ: 0006VP-24-TC) thể hiện hàng rào có kết cấu vách gạch + song sắt, khung gạch + khung bê tông cốt thép, cổng sắt. Vị trí tiếp giáp với ông M, bà K thể hiện tại các điểm 21-10 -53 (các điểm 53-10 là tường kiêng cố, 10-21 tường kiêng cố). Việc ông M, bà K cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị T tại thửa số 164, tờ bản đồ số 29, không ký tứ cận, cản trở đo đạc tại các vị trí tiếp giáp đối với hồ sơ kỹ thuật mà ông bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H, bà T như đã phân tích và nhận định nêu trên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp Điều 169 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
[3] Về chi phí tố tụng: Ông H, bà T tự nguyện nộp và đã nộp đủ
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông H, bà T được miễn tiền tạm ứng án phí. Ông M, bà K có trách nhiệm nộp án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266; Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 244 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 163, 164, 169, 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 12, 26, 166, 203 Luật đất đai năm 2013;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T.
Buộc Lê Hoàng M, bà Nguyễn Thị K chấm dứt hành vi cản trở thực hiện quyền của người sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị T tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 29, giới hạn bởi các điểm 21-10-53 theo bản trích đo hiện khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 16/4/2024 (số lưu hồ sơ: 0006VP-24-TC).
Bản trích đo hiện khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh L lập ngày 16/4/2024 (số lưu hồ sơ: 0006VP-24-TC) là bộ phận không tách rời của bản án.
Đình chỉ đối với yêu cầu của ông H, bà T yêu cầu công nhận diện tích 325 m² do ông H, bà T rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2] Về chi phí tố tụng: Ông H, bà T tự nguyện nộp và đã nộp đủ
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông M, bà K có trách nhiệm nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Ông H, bà T, ông M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(Đã giải thích điều 26 Luật thi hành án)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Quốc Việt |
Bản án số 220/2024/DS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 220/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền của người sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đình chỉ đối với yêu cầu của ông Hòn, bà Tuốt yêu cầu công nhận diện tích 325 m2 do ông Hòn, bà Tuốt rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
