|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 220/2025/DS-ST Ngày: 31-12-2025 V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi, ông Đặng Văn Tác.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thái Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2025/TLST-DS ngày 13/10/2025 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST-DS ngày 03/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
Địa chỉ trụ sở: số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Minh H, ông Lý Nhựt H1 và ông Lê Thanh N – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP V. Địa chỉ liên lạc: Tầng D, Số A T, phường L, tỉnh An Giang. (Văn bản ủy quyền số 7020/2025/UQ-VPB ngày 04/12/2025).
- Bị đơn: Anh Lê Văn D1, sinh năm 2005, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: ấp M, xã P, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Số G, ấp V, xã P, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Văn N1, sinh năm 1979, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: ấp M, xã P, tỉnh An Giang.
+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: ấp M, xã P, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: Số G, ấp V, xã P, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1963, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: ấp M, xã P, tỉnh An Giang (Giấy uỷ quyền số 6522/2025/CCGD ngày 11/11/2025).
(Các đương sự H, N, D1, Đ có mặt; ông N1 yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, ông Nguyễn Minh H đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 15/8/2023, tại Ngân hàng TMCP V chi nhánh A, Phòng G, Lê Văn D1 có ký Hợp đồng cho vay số LN2308049910125, số tiền vay 699.930.026 đồng, mục đích vay: tiêu dùng – mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 300 tháng (từ ngày 31/8/2023 đến ngày 31/8/2048), lãi suất 12%/năm, lãi suất cố định trong 18 tháng từ ngày giải ngân, hết thời gian cố định thì lãi suất sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/01 lần, lãi quá hạn 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để bảo đảm hợp đồng tín dụng nêu trên ông N1, bà T đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023 đối với diện tích 307,9m², loại đất ở, thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 6, toạ lạc xã T (nay là xã P), tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673, số vào sổ cấp GCN: CH 00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010 cho ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị T đứng tên. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P ngày 15/8/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, anh D1 chỉ trả được 2.333.000 đồng tiền vốn gốc và 7.913.045 đồng tiền lãi thì ngưng đến nay.
Nay Ngân hàng TMCP V (V1) yêu cầu anh Lê Văn D1 có nghĩa vụ phải thanh toán số tiền 925.519.414 đồng (bằng chữ: chín trăm hai mươi lăm triệu năm trăm mười chín nghìn bốn trăm mười bốn đồng), gồm nợ gốc 697.597.026 đồng, nợ lãi 227.922.388 đồng tính đến ngày 31/12/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh kể từ ngày 01/01/2026 theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết cho đến khi anh D1 thanh toán hết nợ cho V1. Trường hợp anh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ và lãi phát sinh thì V1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo nội dung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023 để thu hồi toàn bộ khoản nợ theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/11/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Lê Văn D1.trình bày:
Thống nhất với nội dung khởi kiện của Ngân hàng TMCP V. Anh có vay tiền theo hợp đồng cho vay hạn mức số LN2308049910125 ngày 15/8/2023. Mục đích vay để tiêu dùng, đưa tiền cho ông N1, bà T mượn vì ông N1 bà T thuộc nợ xấu nên không vay được, vì vậy ông N1, bà T đồng ý ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023. Tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất diện tích 307,9m² thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 6, tọa lạc xã T (xã P), tỉnh An Giang và tài sản gắn liền với đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010 cho ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị T đứng tên. Khi vay anh được cấp một tài khoản ngân hàng để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đến hạn sẽ gửi tiền vào tài khoản và ngân hàng tự khấu trừ phần nợ. Anh chỉ thanh toán được 01 kỳ thì ngưng đến nay, tính đến ngày 31/12/2025 còn nợ số tiền 925.519.414 đồng (bằng chữ: chín trăm hai mươi lăm triệu năm trăm mười chín nghìn bốn trăm mười bốn đồng), trong đó nợ gốc 697.597.026 đồng, nợ lãi 227.922.388 đồng. Đối với yêu cầu của V1 thì anh thống nhất đồng ý trả nợ cho V1, tuy nhiên do còn đi học và làm thêm, thu nhập không ổn định nên đề nghị V1 xem xét, giảm bớt một phần lãi, đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 28/11/2025, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N1 trình bày:
Ông là cha ruột của Lê Văn D1, mẹ của D1 là Nguyễn Thị T. Ông và bà T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 654/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/11/2024 của Toà án nhân dân huyện Phú Tân (nay là Toà án nhân dân khu vực 12), tỉnh An Giang. Khi còn chung sống thì ngày 15/8/2023, Lê Văn D1 có vay tiền của V1 bằng hợp đồng vay số LN2308049910125 với số tiền là 699.930.026 đồng. Số tiền này D1 đưa lại cho ông và bà T để tiêu dùng, trang trải cuộc sống. Ông và bà T có đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010, diện tích 307,9m² thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 6, loại đất ở nông thôn, tọa lạc xã T (nay là xã P), tỉnh An Giang nên đồng ý ký tên hợp đồng thế chấp toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để bảo đảm khoản vay trên. Sau khi vay thì trả mỗi tháng tiền lãi khoảng 9.000.000 đồng, khi đó ông và bà T còn làm ăn được nên trả lãi cho ngân hàng. Sau khi ly hôn, tài sản thế chấp do một mình ông đang quản lý, sử dụng. Ông xin giảm số tiền lãi, trường hợp D1 không trả được nợ dẫn đến phát mãi tài sản theo quy định pháp luật thì xin trừ ra phần đất mồ mã của ông bà, sau khi trả nợ xong nếu còn dư tiền từ việc bán tài sản thế chấp thì ông và bà T sẽ chia đôi. Xin vắng mặt đến khi kết thúc vụ án.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 06/11/2025, quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:
Thống nhất với nội dung khởi kiện của V1, bà và ông Lê Văn N1 có ký hợp đồng thế chấp số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023, tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673, số vào sổ cấp GCN: CH 00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010 cho ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị T đứng tên, tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm khoản vay cho con Lê Văn D1. Số tiền vay 699.930.026 đồng D1 đưa cho bà và ông N1 để trang trải cuộc sống. Bà đóng lãi được vài lần, phương thức thanh toán là nộp tiền vào tài khoản ngân hàng cấp cho D1, đến hạn thì ngân hàng sẽ tự trừ tiền trong tài khoản, không nhớ thời gian và số tiền đã đóng, sau này do không đủ tiền để thanh toán nợ nữa nên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, ngân hàng có nhắc nợ nhưng do kinh tế khó khăn nên chưa trả cho VPBankk. Ngày 19/11/2024 bà và ông Lê Văn N1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 654/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang). Toàn bộ tài sản thế chấp hiện nay do ông Lê Văn N1 đang quản lý, sử dụng. Bà đồng ý yêu cầu của V1 về việc bán tài sản thế chấp của bà và ông N1 đứng tên để trả hết khoản nợ cho Lê Văn D1. Nếu tiền bán tài sản thế chấp còn thừa thì bà yêu cầu được chia đôi số tiền còn lại với ông D1.
Tại văn bản ý kiến ngày 07/11/2025 và tại phiên toà, ông Lê Hữu Đ đại diện theo uỷ quyền của bà T trình bày:
Bà Nguyễn Thị T và ông Lê Văn N1 có ký hợp đồng thế chấp số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023, tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673, số vào sổ cấp GCN: CH 00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp cho ông N1 và bà T đứng tên, tài sản thế chấp được dùng để bảo đảm khoản vay cho Lê Văn D1. Số tiền vay vốn 699.930.026 đồng được D1 đưa cho bà T và ông N1 để sử dụng trong sinh hoạt, trang trải cuộc sống. Ngày 19/11/2024 bà và ông Lê Văn N1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 654/2024/QÐST-HNGĐ ngày 19/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – An Giang). Bà T đồng ý việc bán tài sản thế chấp của bà T và ông N1 cùng đứng tên để trả hết khoản nợ cho Lê Văn D1. Nếu tiền bán tài sản thế chấp để thanh toán dứt nợ còn thừa thì bà T yêu cầu được chia đôi số tiền còn lại với ông D1. Toàn bộ tài sản thế chấp hiện nay do ông Lê Văn N1 đang quản lý, sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh Lê Văn D1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 925.519.414 đồng, trong đó vốn gốc 697.597.026 đồng, tiền lãi 227.922.388 đồng tính đến ngày 31/12/2025 và lãi phát sinh sau ngày 31/12/2025 cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất thoả thuận tại Hợp đồng cho vay số LN2308049910125 ngày 15/8/2023. Trường hợp anh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo nội dung hợp đồng thế chấp số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023 để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng. Bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay tiêu dùng nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn N1 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt ông N1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín dụng:
Ngày 15/8/2023, tại Ngân hàng TMCP V, anh Lê Văn D1 có ký hợp đồng cho vay số LN2308049910125, số tiền cho vay 699.930.026 đồng, mục đích vay tiêu dùng – mua sắm vật dụng gia đình, thời hạn vay 300 tháng, lãi suất 12%/năm, lãi quá hạn 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Tính đến ngày 31/12/2025, anh D1 còn nợ Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 925.519.414 đồng, gồm vốn 697.597.026 đồng, tiền lãi 227.922.388 đồng. Xét thấy, hợp đồng tín dụng số LN2308049910125 ngày 15/8/2023 được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh Lê Văn D1 thống nhất còn nợ số tiền nêu trên và đồng ý chịu trách nhiệm trả nợ, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc anh Lê Văn D1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền 925.519.414 đồng, gồm vốn gốc 697.597.026 đồng, tiền lãi 227.922.388 đồng tính đến ngày 31/12/2025 và lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong số tiền phải thanh toán theo mức lãi suất của hợp đồng cho vay số LN2308049910125 ngày 15/8/2023 đã ký kết. Đối với số tiền vay 699.930.026 đồng anh D1 đưa lại toàn bộ cho bà T, ông N1 sử dụng và cũng được ông N1 bà T xác nhận có sự việc này, nhưng các đương sự không tranh chấp số tiền này vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Đối với yêu cầu phát mại tài sản thế chấp:
Ông N1, bà T thống nhất có ký tên hợp đồng thế chấp số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023 đối với tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 307,9m², loại đất ở nông thôn, thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc xã T (xã P), tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673, số vào sổ cấp GCN: CH 00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010 cho ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị T đứng tên để đảm bảo khoản vay của anh Lê Văn D1. Tài sản thế chấp hiện nay do ông N1 đang quản lý, sử dụng. Mặc dù đã ly hôn nhưng chưa phân chia tài sản chung này, nên cũng đồng ý phát mãi tài sản này trong trường hợp anh D1 không có khả năng trả nợ, sau khi phát mãi còn lại bao nhiêu tiền thì sẽ phân chia. Xét thấy, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P ngày 15/8/2023, hợp đồng này được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, trường hợp anh D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo nội dung hợp đồng thế chấp nói trên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
[3] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng TMCP V đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 1.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên anh D1 phải chịu và phải hoàn trả lại 1.000.000 đồng cho Ngân hàng TMCP V.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên anh D1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch 39.766.000 đồng đối với số tiền phải trả theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 320, 323, 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; các Điều 91, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 100, Điều 103, Điều 107 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần V đối với bị đơn anh Lê Văn D1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc anh Lê Văn D1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền 925.519.414 đồng (bằng chữ: chín trăm hai mươi lăm triệu năm trăm mười chín nghìn bốn trăm mười bốn đồng), gồm vốn gốc 697.597.026 đồng và tiền lãi 227.922.388 đồng tính đến ngày 31/12/2025.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Lê Văn D1 phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng số LN2308049910125 ngày 15/8/2023 cho đến khi thanh toán hết số nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Trường hợp anh Lê Văn D1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số LN2308049910125/CDC/HĐTC ngày 15/8/2023, tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất diện tích 307,9m² thuộc thửa số 125, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc xã T (xã P), tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 594673, số vào sổ cấp GCN: CH 00961 do Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh An Giang cấp ngày 18/11/2010 cho ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị T đứng tên để thu hồi toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Anh Lê Văn D1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng và phải hoàn trả 1.000.000 đồng cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ngân hàng Thương mại Cổ phần V không phải chịu án phí và được hoàn lại 19.315.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0003018 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- - Anh Lê Văn D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 39.766.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 220/2025/DS-ST ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 220/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
