|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 220/2024/HS-ST Ngày: 06/8/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Dương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Cảm.
- Bà Phạm Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – C/v Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/01/1997. Tại: Tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 22/36 đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 08 đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm: 1971; và con bà: Võ Thị D (đã chết); Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 01 tiền án.
Tại bản án số 302/2019/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 29 tháng 7 năm 2020, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/3/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn P1 – Sinh năm 2002 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố F, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Chị Nguyễn Thị M – Sinh năm 2001 (vắng mặt)
Trú tại: Số 41/16/3 đường N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Ông Nguyễn Văn P – Sinh năm 1971 (vắng mặt)
Trú tại: Số 2 đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Người chứng kiến:
- Ông Trương Vĩnh T1 – Sinh năm 1987 (vắng mặt)
Trú tại: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. - Ông Nguyễn Đình H1 – Sinh năm 1982 (vắng mặt)
Trú tại: Số 2 đường N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H nhận thức rõ chất thảo mộc khô màu nâu được quấn trong gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá là ma túy có tên thường gọi là T2.
Do không có việc làm ổn định, H nảy sinh ý định mua ma túy Tobacco về bán kiềm lời. Ngày 02 tháng 3 năm 2024, H sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh gắn sim số 0378.199.749 đăng nhập tài koản facebook “Chill BMT P1”, liên lạc đến tài khoản facebook “Nha Trang T3” không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua một gói ma túy T3, người này bán với giá 1.000.000 đồng, H đồng ý và cho người này địa chỉ và số điện thoại để nhận ma túy. Ngày 04 tháng 3 năm 2024, có nhân viên giao hàng (không nhớ đặc điểm và đơn vị giao hàng) đến giao cho H một hộp giấy, kiểm tra bên trong chứa chất thảo mộc khô màu nâu đúng ma túy T3, H đưa cho nhân viên giao hàng số tiền 1.000.000 đồng rồi mang vào nhà ở địa chỉ: đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy một ít sử dụng, rồi bỏ vào trong 50 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc, số ma túy T3 còn lại H cất vào túi nylon. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 13 tháng 3 năm 2024, có nam giới sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Văn H2” nhắn tin với H qua tài khoản facebook "Chill BMT P1” hỏi mua 25 điếu ma túy T3, H đồng ý bán với số tiền 1.600.000 đồng và hẹn gặp tại khu vực đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. H lấy 25 điếu ma túy T3 bỏ vào hộp giấy cất trong túi áo khoác, và rủ bạn là Nguyễn Thị M, sinh năm 2001, trú tại: Số 41/16/3 đường N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cùng đi (M không biết H đi bán ma túy). H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda màu
đỏ trắng biển số 47U1-147.28 chở M đi đến trước số nhà X đường N, phường T, thành phố B thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 hộp giấy bên trong chứa 25 gói giấy hình trụ dạng điếu, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất thảo mộc khô màu nâu, H khai nhận là ma túy T3 mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thu giữ: 01 gói nylon bên trong có chứa thảo mộc khô màu nâu; 01 hộp giấy bên trong chứa 15 gói giấy hình trụ dạng điếu đều chứa chất thảo mộc khô màu nâu; 01 hộp giấy bên trong chứa 10 gói giấy hình trụ dạng điếu đều chứa chất thảo mộc khô màu nâu được niêm phong trong 01 hộp giấy theo quy định của pháp luật. H khai nhận tất cả gói giấy hình trụ màu nâu đều chứa chất thảo mộc khô màu nâu trên đều là chất ma túy có tên thường gọi T3 cất với mục đích bán kiếm lời.
Tại bản kết luận giám định số: 2989/KL-KTHS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện khoa học hình - Bộ Công an kết luận:
Các mẫu giám định đều có chứa chất MDMB-BUTINACA, có khả năng gây ảo giác tương tự chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol (hoạt chất chính trong cần sa), hiện không nằm trong các danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu thảo mộc khô bên trong các điếu thuốc lá và trong túi nylon gửi giám định.
- + Một gói nylon chứa thảo mộc khô màu nâu có khối lượng 9,74 gam. Trích mẫu giám định: 1,74 gam. Hoàn trả mẫu: 8,00 gam.
- + Một hộp giấy bên trong chứa 15 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá có đầu lọc, bên trong các điếu đều chứa mẫu thảo mộc khô, tổng khối lượng mẫu thực vật 12,81 gam. Trích mẫu thực vật giám định 1,54 gam. Khối lượng mẫu thực vật hoàn trả: 11,27 gam.
- + Một hộp giấy bên trong chứa 10 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá có đầu lọc, bên trong các điếu đều chứa mẫu thảo mộc khô, tổng khối lượng mẫu thực vật 8,16 gam. Trích 2,13 gam mẫu thực vật giám định. Khối lượng mẫu thực vật hoàn trả 6,03 gam.
- + Một hộp giấy bên trong chứa 25 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá có đầu lọc, bên trong các điếu đều chứa chất thảo mộc khô, tổng khối lượng mẫu thảo mộc khô 21,05 gam. Trích 2,11 gam mẫu thực vật giám định. Khối lượng mẫu thực vật hoàn trả 18,94 gam.
Tại bản cáo trạng số: 200/CT-VKS ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa và quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Các biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 8,00 gam thảo mộc khô màu nâu; 11,27 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 15 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 6,03 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 10 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 18,94 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 25 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá còn lại sau giám định, là tang vật của vụ án.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước một điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu xanh, số Imei: 867094041539276 gắn sim số 0378.199.749 là công cụ bị cáo H sử dụng phạm tội.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ trắng biển số 47U1-147.28 có số khung: RLHJA3654GY801774, số máy: JA36E-0603946 là phương tiện bị cáo H sử dụng phạm tội. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên do anh Nguyễn Văn P1 sinh năm 2002, trú tại Tổ dân phố F, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Vào ngày 13 tháng 3 năm 2024 anh P1 cho chị gái là Nguyễn Thị M mượn chiếc xe trên đi công việc, anh không biết việc chị M đưa xe cho bị cáo H sử dụng phạm tội. Vì vậy, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh P1 nhận quản lý và sử dụng là phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Văn H không bào chữa và tham gia tranh luận gì. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận: Vào khoảng 20 giờ 05 phút ngày 13 tháng 3 năm 2024, Nguyễn Văn H có hành vi mua bán 21,05 gam chất thảo mộc khô màu nâu chứa chất MDMB-BUTINACA, có khả năng gây ảo giác tương tự chất ma túy Delta-9-tetrahydrocanabinol (hoạt chất chính trong cần sa) thì bị phát hiện bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở tại đường Đ, phường T, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột còn thu giữ của Nguyễn Văn H 30,71 gam chất thảo mộc khô màu nâu (hoạt chất chính trong cần sa) cất với mục đích bán kiếm lời.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Nguyễn Văn H là công dân có đủ khả năng để nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết được rằng ma túy là chất gây nghiện thuộc sự quản lý độc quyền của nhà nước, mọi hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm khắc. Song do ý thức coi thường pháp luật, động cơ thu lợi bất chính, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Xét về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có 01 tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật và nhằm răn đe phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với: 8,00 gam thảo mộc khô màu nâu; 11,27 gam thảo mộc khô màu nâubên trong 15 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 6,03 gam thảo mộc khô màu nâubên trong 10 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 18,94 gam thảo mộc khô màu nâubên trong 25 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá còn lại sau giám định, là tang vật của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng OPPO màu xanh, số Imei: 867094041539276 gắn sim số 0378.199.749 là tài sản của bị cáo H, là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ trắng biển số 47U1-147.28 có số khung: RLHJA3654GY801774, số máy: JA36E-0603946 là phương tiện bị cáo H sử dụng phạm tội. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên do anh Nguyễn Văn P1 sinh năm 2002, trú taị Tổ dân phố F, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Vào ngày 13 tháng 3 năm 2024 anh P1 cho chị gái là Nguyễn Thị M mượn chiếc xe trên đi công việc, anh không biết việc chị M đưa xe cho bị cáo H sử dụng phạm tội. Vì vậy, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh P1 nhận quản lý và sử dụng là phù hợp, nên cần chấp nhận.
[6] Về các hành vi khác
Đối với nguồn ma túy bị cáo H khai mua qua tài khoản facebook “Nha Trang T” của đối tượng không rõ nhân thân lai lịch, và nhân viên giao hàng (không nhớ đơn vị giao hàng). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên tách hành vi của những người này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với người nam giới sử dụng facebook có tên “Nguyễn Đức H4” liên lạc mua ma túy với bị cáo H qua facebook “Chill Bmt P”. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên tách hành vi của người này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với chị Nguyễn Thị M không biết việc bị cáo H dùng xe của chị chở đi bán ma túy. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý chị M là phù hợp.
Đối với căn nhà ở địa chỉ đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo H cất giấu ma túy. Quá trình điều tra, xác minh: căn nhà trên do ông Nguyễn Văn P (là bố đẻ của bị cáo H) thuê của bến xe khách phía Bắc, tỉnh Đắk Lắk để buôn bán và sinh sống. Qua làm việc, ông P không biết việc bị cáo H cất giấu ma túy trong nhà với mục đích bán và qua xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Công ty X có cho ông Nguyễn Văn P thuê căn nhà trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý ông P là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/3/2024 .
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ trắng biển số 47U1-147.28, có số khung: RLHJA3654GY801774, số máy: JA36E-0603946 cho anh Nguyễn Văn P1 là chủ sở hữu nhận quản lý và sử dụng.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO, màu xanh (xanh đen), số Imei: 867094041539276 gắn sim số 0378.199.749 là tài sản của bị cáo H, là phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
Tịch thu tiêu hủy: 8,00 gam thảo mộc khô màu nâu; 11,27 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 15 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 6,03 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 10 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá; 18,94 gam thảo mộc khô màu nâu bên trong 25 gói giấy hình trụ dạng điếu thuốc lá còn lại sau giám định theo biên bản mở niêm phong, cân xác định khối lượng trích mẫu giám định và niêm phong lại đối tượng giám định ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trung tâm giám định ma túy - Viện khoa học hình - Bộ Công an (đựng trong gói niêm phong số 2989/KL-KTHS, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Hoàng Như Trần A, Hoàng Thế T4 và đóng dấu tròn màu đỏ của Viện khoa học hình - Bộ Công an, là vật chứng của vụ án.
(Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/7/2024 lưu tại hồ sơ vụ án).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Dương |
Bản án số 220/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 220/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy" Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
