Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ CÔNG TÂY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh P

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị N Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Chính.
  2. Ông Nguyễn Đình Thung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Huỳnh P Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Thành S, sinh năm 1981, tại Tiền Giang; căn cước công dân số [...] cấp ngày 22/11/2021; nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: thợ hớt tóc; trình độ học vấn: lớp 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T (chết) và bà: Nguyễn Thị C (chết); vợ: Trần Thị Thu T và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Ngô Kim H, sinh năm 1971, tại Tiền Giang; căn cước công dân số [...] cấp ngày 10/4/2021; nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn H (chết) và bà: Ngô Kim O (chết); chồng: Võ Thanh Nvà có 01 con sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Võ Thanh Nhàn, sinh năm 1972 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị L, sinh năm 1967 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 4, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  2. Trần Văn T, sinh năm 1985 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  3. Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1977 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  4. Huỳnh Thị P, sinh năm 1971 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  5. Cao Văn N, sinh năm 1965 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  6. Ngô Văn Đ, sinh năm 1969 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  7. Ngô Thị P, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).
    Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.
  8. Ngô Kim Y, sinh năm 1971 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
  9. Ngô Văn T, sinh năm 1969 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: ấp P, xã V, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Do muốn thu lợi bất chính từ việc đánh bạc trái phép với hình thức số đề nên bị cáo Lê Thành S đã rủ rê bị cáo Ngô Kim H làm chủ lô đề, ghi đề để đánh bạc trực T với những người có nhu cầu mua đề, bị cáo H đồng ý. Trong đó, bị cáo S là người trực T bỏ tiền ra để cho bị cáo H ghi đề. Bị cáo H có nhiệm vụ tìm những người có nhu cầu mua số đề để ghi đề và thu tiền mua đề của người mua đề, sau đó tập hợp gửi qua phần mềm Zalo bằng tài khoản “H Kim” (đăng ký bằng số điện thoại 0943.145.xxx của bị cáo H) cho bị cáo S qua tài khoản "Yokohama Le” (đăng ký bằng số 0918230638 của S) trước khi có kết quả xổ số. Người mua đề có thể đến nhà bị cáo H gặp trực T hoặc qua số điện thoại 0943.145.xxx hoặc tài khoản Zalo của H đề mua số đề với cách thức cụ thể như sau:

Người chơi lựa chọn đặt cược với chủ lô đề 02 hoặc 03 số cuối bất kỳ từ giải đặc biệt đến giải tám với tổng số tiền mua đề thấp nhất là 5.000 đồng, không giới hạn cao nhất, trước thời gian công bố kết quả xổ số miền Bắc, miền Nam (gọi là đài miền Bắc, miền Nam; đài miền Nam trước 16 giờ hàng ngày; đài miền Bắc trước 18 giờ hàng ngày). Số tiền đánh bạc người chơi sẽ thanh toán cho bị cáo H theo thỏa thuận. Các người chơi sẽ lựa chọn:

Mua số “Đầu” là để so con số đã mua với kết quả giải tám (mua 02 chữ số) - giải bảy (mua 03 chữ số) đài miền Nam hoặc giải bảy đài miền Bắc; nếu trùng khớp thì thắng cược.

Mua số “Đuôi” là để so con số (02 chữ số hoặc 03 chữ số) đã mua với số cuối tương ứng của giải kết quả xổ số đặc biệt; nếu trùng khớp thì thắng cược.

Mua số “Bao lô” là để so con số đã mua với các số cuối (02 chữ số hoặc 03 chữ số) tương ứng của tất cả các giải; nếu trùng khớp thì thắng cược.

Mua số “Đá” (còn gọi là lô xiên) là để so các con số (02 con số, mỗi con số gồm 02 chữ số) đã mua với số cuối tương ứng của một trong các giải, nếu có đủ các con số đã mua thì thắng cược.

Đối với số tiền mua đề, các bị cáo thống nhất, để có nhiều người chơi đề, bị cáo H chỉ thu 78% số tiền trên tổng số tiền ghi trên phơi đề mà con bạc phải trả để mua số đề, sau đó chuyển cho bị cáo S 75% và bị cáo H giữ lại 3%.

Sau khi có kết quả xổ số, các bị cáo sẽ trả tiền thắng cược cho người mua đề với tỷ lệ như sau:

Đối với thắng cược số đầu, số đuôi, bao lô hai chữ số thì số tiền trúng thưởng bị cáo S sẽ trả cho bị cáo H bằng gấp 75 lần số tiền mua đề, bị cáo H trả cho người mua đề 73 lần số tiền mua đề, giữ lại 02 lần số tiền mua đề.

Đối với thắng cược đầu đuôi, bao lô ba chữ số thì số tiền trúng thưởng bị cáo S sẽ trả cho bị cáo H bằng gấp 650 lần số tiền mua đề, bị cáo H trả cho người mua đề 630 lần số tiền mua đề, giữ lại 20 lần số tiền mua đề.

Đối với thắng cược đá 02 chữ số (đài Miền Nam) thì số tiền trúng thưởng S sẽ trả cho bị cáo H bằng gấp 550 lần số tiền mua đề, bị cáo H trả cho người mua đề 530 lần số tiền mua đề, giữ lại 20 lần số tiền mua đề.

Đối với thắng cược đá 02 chữ số (đài Miền Bắc) thì số tiền trúng thưởng bị cáo S sẽ trả cho bị cáo H bằng gấp 650 lần số tiền mua đề, bị cáo H trả cho người mua đề 630 lần số tiền mua đề, giữ lại 20 lần số tiền mua đề.

Đối với hình thức bao lô (bao tất cả các dãy số trúng thưởng), nếu trùng khớp với 01 dãy số sẽ tính là một lần, tương ứng khi trùng khớp với nhiều dãy số sẽ được nhân số tiền thắng cược tương đương với số lần trúng.

Sau khi chung tiền thắng cược cho người mua đề, trừ đi số tiền hoa hồng mà bị cáo H được hưởng, bị cáo H chuyển số tiền còn lại của những người mua số đề cho bị cáo S.

Quá trình điều tra đã chứng minh được ngày 26/7/2023 và ngày 27/07/2023, bị cáo S và bị cáo H đã 02 lần đánh bạc thắng thua bằng hình thức ghi số đề với các con bạc với tổng số tiền mà người chơi đã đặt cá cược (số tiền được ghi trên phơi đề) là 41.984.000 đồng (trong đó, ngày 26/7/2023 tổng số tiền đánh bạc là 32.554.000 đồng, ngày 27/7/2023 tổng số tiền đánh bạc là 9.370.000 đồng). Số tiền bị cáo S thu lợi bất chính là 2.540.000 đồng, bị cáo H thu lợi bất chính là 970.000 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo được thể hiện qua các tin nhắn Zalo giữa bị cáo S và bị cáo H, cụ thể như sau:

Ngày 26/7/2023 có 13 tin nhắn:

* Tin nhắn thứ nhất:

  • - Mua số 15 đầu đài Đồng Nai số tiền 250.000 đồng; mua số 43 đầu đài Đồng Nai số tiền 125.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 375.000 đồng.
  • - Mua số 65 đầu đuôi đài Đồng Nai số tiền đầu 200.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 250.000 đồng.
  • - Mua số số 83 đầu đuôi đài Cần Thơ số tiền đầu 200.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 250.000 đồng.
  • - Mua số 87 bao lô đài Cần Thơ số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 900.000 đồng.
  • - Mua số 60 bao lô đài Đồng Nai số tiền 20.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 360.000 đồng.
  • - Mua số 07, 47, 87, 11 bao lô hai đài (đài Cần Thơ, Đồng Nai) số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 720.000 đồng.
  • - Mua số 07 đá 11 hai đài (đài Cần Thơ, Đồng Nai) số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số 83 đầu đuôi đài Đồng Nai số tiền đầu 30.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 35.000 đồng.
  • - Mua số 59 đầu đuôi hai đài (đài Cần Thơ, Đồng Nai) số tiền đầu 20.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 50.000 đồng.
  • - Mua số 59 đá 72 ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua các số 09, 15, 43, 83, 49 đầu đuôi ba đài chính (Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng) số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 225.000 đồng.
  • - Mua số 89 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 20.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 90.000 đồng.
  • - Mua số 89 đá 98 ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 56 đá 91 ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 81 đá 72 ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 42 bao lô ba đài chính số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.

* Tin nhắn thứ hai:

  • - Mua số 87 đá 78 hai đài (đài Cần Thơ, Đồng Nai) số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 36.000 đồng.
  • - Mua số 87 đầu đài Cần Thơ số tiền đầu 20.000 đồng; mua số 27 đầu đài Cần Thơ số tiền đầu 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 30.000 đồng.
  • - Mua số 36 đầu đuôi đài Cần Thơ số tiền đầu 130.000 đồng, đuôi 130.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 260.000 đồng.
  • - Mua số 79 bao lô hai đài Đồng Nai, Sóc Trăng số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.
  • - Mua số 18 đá 61 hai đài Cần Thơ, Sóc Trăng số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 36.000 đồng.
  • - Mua số 38 đá 83 hai đài Cần Thơ, Sóc Trăng số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 36.000 đồng.
  • - Mua số 63 bao lô đài Sóc Trăng số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 90.000 đồng.
  • - Mua số 11, 30 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.
  • - Mua số số 35, 86 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; mua số 68 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 120.000 đồng.
  • - Mua số 73 bao lô đài cần Thơ số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 90.000 đồng.
  • - Mua số 073 bao lô đài Cần Thơ số tiền 2.000 đồng; mua số 073 đầu đuôi đài Cần Thơ số tiền là đầu 30.000 đồng, đuôi 30.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 94.000 đồng.
  • - Mua số 18 bao lô hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.
  • - Mua số 77 đá 18 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 36.000 đồng.

*Tin nhắn thứ ba:

  • - Mua số 87 đá 78 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số 07 đá 70 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số 32 đá 72 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số 42 đá 82 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số 49 đá 64 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua số số 78, 72, 70 bao lô hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 1.620.000 đồng.
  • - Mua số 339 bao lô đài Sóc Trăng số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 170.000 đồng.
  • - Mua các số 339, 39 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 120.000 đồng.
  • - Mua số 15 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; mua các số 51, 61 đầu ba đài số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 345.000 đồng.
  • - Mua các số 41, 71, 08 đầu ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 45.000 đồng.
  • - Mua số 39 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 45.000 đồng.
  • - Mua số 60 đuôi ba đài số tiền 30.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 90.000 đồng.
  • - Mua số 68 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 270.000;
  • - Mua số 69 đầu đuôi đài Đồng Nai số tiền đầu 30.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; mua số 69 bao lô đài Đồng Nai số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 240.000 đồng.

* Tin nhắn thứ tư:

  • - Mua số 65, 56 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 66, 59 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 19, 59 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 19, 00 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 65, 59 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 16, 61 đầu hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 70, 15 đầu hai đài Cần Thơ, Sóc Trăng số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua số 98, 49 đầu hai đài Cần Thơ, Sóc Trăng số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 59, 10 bao lô hai đài Cần Thơ, Sóc Trăng nhưng người mua số đề không ghi số tiền mua con số 59, 10 nên bị cáo H không bán con số này.

* Tin nhắn thứ năm:

  • - Mua các số 07, 52 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 120.000 đồng.
  • - Mua số 07 đầu đài Cần Thơ số tiền là 50.000 đồng; mua số 07 bao lô đài Cần Thơ số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 140.000 đồng.
  • - Mua số 52 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 40.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 150.000 đồng.
  • - Mua các số 89, 98, 60, 87 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 120.000 đồng.
  • - Mua số 51 đá 91 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 1.000 đồng; mua số 51 đá 56 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 72.000 đồng.
  • - Mua các số 51, 91 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua số 83 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 20.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 90.000 đồng.
  • - Mua số 07 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng; mua số 99 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 300.000 đồng.
  • - Mua số 07 đá 99 hai đài Cần Thơ, Đồng Nai số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 36.000 đồng.

* Tin nhắn thứ sáu: Mua số 26 bao lô đài Đồng Nai số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.

* Tin nhắn thứ bảy:

  • - Mua số 552, 52 bao lô đài Sóc Trăng số tiền 6.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 210.000 đồng;
  • - Mua các số 90, 91, 92, 93 đầu đuôi đài Cần Thơ số tiền đầu 35.000 đồng, đuôi 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 200.000 đồng;
  • - Mua số 06 đầu đuôi đài Cần Thơ số tiền đầu 50.000 đồng, đuôi 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 65.000 đồng;
  • - Mua số 59 đầu đuôi đài Đồng Nai, Cần Thơ số tiền là đầu 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 200.000 đồng;
  • - Mua số 60, 83 đầu đuôi đài Đồng Nai số tiền là đầu 25.000 đồng, đuôi 25.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.
  • - Mua số 31, 72, 95 đuôi đài Đồng Nai số tiền là 25.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 75.000 đồng.
  • - Mua số 68 đầu đuôi ba đài số tiền là đầu 15.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua số 68 đá 83 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.

* Tin nhắn thứ tám:

  • - Mua số 83, 43 đầu đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 4.000 đồng.
  • - Mua số 59, 55 đầu đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 4.000 đồng.
  • - Mua số 98, 59 đầu đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 4.000 đồng.
  • - Mua số 06, 60 đầu đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 4.000 đồng.
  • - Mua số 59 bao lô đài Hà Nội số tiền là 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 270.000 đồng.
  • - Mua số 51, 15 đầu đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 4.000 đồng.
  • - Mua số 55 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 20.000 đồng, đuôi 20.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 40.000 đồng.

* Tin nhắn thứ chín:

  • - Mua số 82 đá 72 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng; mua số 58 đá 78 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 78, 58, 72 bao lô đài Hà Nội số tiền là 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 1.215.000 đồng.
  • - Mua số 83 đá 65 đài Hà Nội số tiền là 4.000 đồng; mua số 37 đá 72 đài Hà Nội số tiền là 3.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 378.000 đồng.
  • - Mua số 76 đá 64 đài Hà Nội số tiền là 3.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 162.000 đồng.
  • - Mua các số 89, 49, 09, 15, 51 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.
  • - Mua các số 43 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 10.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua các số 44, 48, 96 bao lô đài Hà Nội số tiền là 5.000 đồng; mua số 48 đá 96 đài Hà Nội số tiền là 2.500 đồng. Tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.
  • - Mua các số 07, 87 bao lô đài Hà Nội số tiền là 5.000 đồng; mua số 07 đá 87 đài Hà Nội số tiền là 3.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 432.000 đồng.
  • - Mua các số 07 đá 34 đá 83 đài Hà Nội số tiền là 1.000 đồng; mua số 07 bao lô đài Hà Nội số tiền là 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 297.000 đồng.
  • - Mua số 07, 74, 79 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua số 83, 34 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 20.000 đồng, đuôi 20.000 đồng; mua số 74 đá 34 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 188.000 đồng.
  • - Mua số 06 đá 60 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.

* Tin nhắn thứ mười:

  • - Mua số 11 bao lô đài Hà Nội số tiền là 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 135.000 đồng.
  • - Mua số 07 đá 34 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua các số 11 đá 65 đá 07 đài Hà Nội số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 162.000 đồng.
  • - Mua số 34 đầu đuôi đài Hà Nội số tiền là đầu 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 10.000 đồng.

* Tin nhắn thứ mười một:

  • - Mua số 54, 55, 58, 50, 53 đuôi đài Hà Nội số tiền là 35.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 175.000 đồng;
  • - Mua số 58, 85, 68, 28, 82, 99 bao lộ đài Hà Nội số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 1.620.000 đồng;
  • - Mua số 83, 97, 95 đầu đài Hà Nội số tiền là 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 30.000 đồng;
  • - Mua các số 68 đá 28 đá 85 đài Hà Nội số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 324.000 đồng.

* Tin nhắn thứ mười hai: Mua số 05 đá 58 đài Hà Nội số tiền là 10.000 đồng, tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.

* Tin nhắn thứ mười ba: Mua số 95, 59 bao lô đài Hà Nội số tiền là 25.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 1.350.000 đồng.

Sau khi có kết quả xổ số của các đài gồm Xổ số kiến thiết Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai và Xổ số kiến thiết Hà Nội, bị cáo H, bị cáo S đã dò và xác định số tiền con bạc trúng đề là 12.500.000 đồng, gồm 8.8575.000 đồng trúng các đài Miền Nam và 3.925.000 đồng trúng đài Miền Bắc. Cụ thể:

  • - Thắng cược số 83 đuôi 50.000 đồng đài Cần Thơ, số tiền thắng cược là 3.750.000 đồng.
  • - Thắng cược số 11 bao lô 5.000 đồng của đài Đồng Nai, số tiền thắng cược là 375.000 đồng.
  • - Thắng cược số 83 đuôi 5.000 đồng đài Cần Thơ, số tiền thắng cược là 375.000 đồng.
  • - Thắng cược số 11 bao lô 5.000 đồng của hai đài Đồng Nai, Sóc Trăng, số tiền thắng cược là 750.000 đồng.
  • - Thắng cược số 30 bao lộ 5.000 đồng của đài Sóc Trăng, số tiền thắng cược là 375.000 đồng.
  • - Thắng cược số 66 đá 59 số tiền 2000 đồng đài Cần Thơ, Đồng Nai, số tiền thắng cược là 1.100.000 đồng.
  • - Thắng cược số 98 đá 49 số tiền 2000 đồng đài Cần Thơ, Sóc Trăng, số tiền thắng cược là 1.100.000 đồng.
  • - Thắng cược số 83 đuôi 10.000 đồng đài Cần Thơ, số tiền thắng cược là 750.000 đồng.
  • - Thắng cược số 59 đá 55 số tiền 2000 đồng đài Hà Nội, số tiền thắng cược là 1.300.000 đồng.
  • - Thắng cược số 59 bao lô 10.000 đồng của đài Hà Nội, số tiền thắng cược là 750.000 đồng;
  • - Thắng cược số 59 bao lô 25.000 đồng của đài Hà Nội, số tiền thắng cược là 1.875.000 đồng.

Ngày 27/7/2023 có 04 tin nhắn:

* Tin nhắn thứ nhất:

  • - Mua các số 19, 51, 16, 43 đầu đuôi ba đài (đài Tây Ninh, An Giang, Bình Thuận) số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi người mua 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.
  • - Mua các số 15, 76 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua số 476 bao lô ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 51.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị L, sinh năm 1967, ngụ khu phố 4, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang mua số 30, số đầu đài Tây Ninh với số tiền 600.000 đồng; số 30, số đuôi đài Tây Ninh với số tiền 300.000 đồng; số 70, số đầu đài Tây Ninh với số tiền 100.000 đồng; số 70, số đuôi đài Tây Ninh với số tiền 400.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 1.400.000 đồng.
  • - Ngô Thị Y, sinh năm 1971, ngụ khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang mua số 07, 34, số đầu và số đuôi của 03 đài với số tiền 10.000 đồng, số tiền là 120.000 đồng. Mua số 07, bao lô cả 03 đài với số tiền là 5.000 đồng, số tiền là 270.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 390.000 đồng.
  • - Trần Văn T, sinh năm 1985, ngụ khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang liên hệ bị can H bằng số điện thoại 0853.870.xxx để mua số 11 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng; mua số 511 bao lô ba đài số tiền 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 372.000 đồng. Mua số 323 đầu đuôi ba đài chính số tiền đầu 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng; mua số 323 bao lô ba đài số tiền 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 81.000 đồng. Tổng cộng là 453.000 đồng (chưa đưa cho bị can H).
  • - Mua các số 15, 51, 71, 61 đầu ba đài số tiền là 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.
  • - Mua số 32 đầu ba đài số tiền là 30.000 đồng; mua số 60 đầu đuôi ba đài số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 160.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 600.000 đồng.

* Tin nhắn thứ hai:

  • - Mua số 83 đầu đuôi đài Tây Ninh số tiền đầu 10.000 đồng, đuôi 10.000 đồng; mua số 92 đầu đuôi đài Tây Ninh số tiền đầu 15.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 40.000 đồng.
  • - Mua số 06 đầu đuôi đài An Giang số tiền đầu 5.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 15.000 đồng.
  • - Mua số 06 đá 51 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 87 bao lô đài An Giang số tiền 40.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 720.000 đồng.
  • - Mua số 70 bao lô đài Tây Ninh số tiền 30.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.
  • - Mua số 83 đầu đuôi đài Tây Ninh số tiền đầu 400.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 450.000 đồng.
  • - Mua số 65 đầu đuôi đài Tây Ninh số tiền đầu 500.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 550.000 đồng.
  • - Mua các số 15, 43 đầu đài Tây Ninh số tiền là 125.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 250.000 đồng.
  • - Mua các số 59, 79 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 540.000 đồng.
  • - Mua số 59 đá 79 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 71 đầu ba đài số tiền là 20.000 đồng; mua các số 57 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 330.000 đồng.
  • - Mua số 50 đầu đuôi một đài Tây Ninh số tiền đầu là 130.000 đồng, đuôi 130.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 260.000 đồng.
  • - Mua số 85 đầu đuôi một đài An Giang số tiền đầu là 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.

* Tin nhắn thứ ba:

  • - Mua các số 83, 38 đầu hai đài Tây Ninh, An Giang số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 98, 55 đầu hai đài Tây Ninh, An Giang số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 60, 59 đầu hai đài Tây Ninh, An Giang số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 52, 72 đầu hai đài Tây Ninh, An Giang số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 70, 15 đầu hai đài Tây Ninh, An Giang số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 60, 39 đầu hai đài An Giang, Bình Thuận số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.
  • - Mua các số 98, 39 đầu hai đài An Giang, Bình Thuận số tiền là 2.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 8.000 đồng.

* Tin nhắn thứ tư:

  • - Mua số 52 đầu đuôi một đài Tây Ninh số tiền đầu là 50.000 đồng, đuôi 50.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.
  • - Mua số 52 đầu đuôi hai đài An Giang, Bình Thuận số tiền đầu là 30.000 đồng, đuôi 20.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.
  • - Mua số 87 đầu ba đài số tiền đầu là 20.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 60.000 đồng.
  • - Mua số 75 bao lô ba đài số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 270.000 đồng.
  • - Mua số 51 đá 65 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 86 đá 84 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.
  • - Mua số 82 đá 28 ba đài số tiền là 1.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 108.000 đồng.

- Nguyễn Hoàng D, sinh năm 1977, ngụ khu phố 2, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang liên hệ bị cáo H bằng số điện thoại 0396.463.xxx để mua số 16 đầu đuôi một đài Tây Ninh số tiền đầu là 30.000 đồng, đuôi 30.000 đồng; mua số 16 bao lô đài Tây Ninh số tiền 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 240.000 đồng (chưa đưa cho bị cáo H).

- Huỳnh Thị P, sinh năm 1971, ngụ khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang liên hệ bị cáo H bằng số điện thoại 0369.141.xxx mua các số 27, 72, 37, 10 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 15.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua là 300.000 đồng; các số 43, 03, 59 đuôi ba đài số tiền là 15.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 135.000 đồng. Tổng cộng là 435.000 đồng (chưa đưa cho bị cáo H).

- Mua các số 79, 39 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 20.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 180.000 đồng.

- Mua các số 527, 537, 510, 979, 679 đầu đuôi ba đài số tiền đầu là 5.000 đồng, đuôi 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 150.000 đồng.

- Mua các số 85, 58, 55, 79 đầu đuôi một đài Bình Thuận số tiền đầu là 15.000 đồng, đuôi 10.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 100.000 đồng.

Ngoài ra, các con bạc sau đây còn đến trực T nhà bị cáo H để mua số đề gồm:

  • - Cao Văn N, sinh năm 1965, ngụ khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang mua 02 số (không rõ số), bao lô 03 đài, với số tiền 3.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 102.000 đồng;
  • - Ngô Văn Đ, sinh năm 1969, ngụ khu phố 5, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang mua số 59, bao lô đài Bình Thuận, với số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 90.000 đồng.
  • - Ngô Văn T, sinh năm 1969, ngụ ấp Phú Quí, xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang mua số 07, số đầu ba đài, số tiền 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 15.000 đồng.

Do số tiền mua nhỏ nên bị cáo H đã gộp với những người mua khác, mua cùng số, cùng đài và cùng cách thức chơi để nhắn tin gửi cho bị cáo S.

Đối với Ngô Thị P, sinh năm 1980, ngụ ấp T, xã V, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang trực T đến nhà bị cáo H để mua số 07 đầu, đuôi ba đài, số tiền là 5.000 đồng. Tổng số tiền mua đề là 30.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo H chưa kịp ghi vào sổ ghi đề, nhắn tin cho bị cáo S thì lực lượng Công an đã T hành kiểm tra, bắt quả tang thu giữ tang vật. (chưa có kết quả xổ số).

Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 27/7/2023 là 9.370.000 đồng. Trong đó số tiền thực tế mà H thu từ các con bạc là 7.298.000 đồng.

Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định từ cuối tháng 05/2023 đến ngày 25/7/2023, bị cáo H nhiều lần ghi các con số đề, số đề được ghi vào quyển tập (không rõ người mua, ngày mua số đề). Nếu ngày nào người chơi đề mua ít, dưới 2.000.000 đồng thì H sẽ không chuyển cho bị cáo S mà giữ lại trực T đánh bạc với người mua đề. Đối với những ngày người chơi đề mua đề khoảng 3.000.000 đồng thì H sẽ chuyển giao các con số đề cho bị cáo S để hưởng hoa hồng. Hình thức chuyển là cầm quyển tập trực T đến cho bị cáo S xem và ghi vào giấy tập (phơi đề) của S. Trong thời gian trên bị cáo H đã thu lợi 2.000.000 đồng từ việc trực T đánh bạc với người mua đề và tiền hoa hồng ghi đề giúp cho bị cáo S; riêng bị cáo S thì thua cược nhưng không rõ số tiền là bao nhiêu.

Bị cáo S đã nộp số tiền thu lợi bất chính 2.540.000 đồng, bị cáo H đã nộp số tiền thu lợi bất chính 2.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án thu giữ và xử lý như sau:

  • - 01 (một) quyển tập có kích thước (20,5x15,5)cm, trên quyển tập có ghi chữ bút cầu, bên trong có 16 (mười sáu) tờ giấy có ghì các chữ và số và 13 (mười ba) tờ giấy, bên trong mỗi tờ có ghi các chữ và số.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8Plus, sim điện thoại số 0943.145.xxx.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 11, sim điện thoại số 0981.724.xxx.
  • - 01 (một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model C2-01, không có sim điện thoại.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, mdel: C2-01, màu đen xám, không có sim điện thoại.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xám, model C01, không có sim điện thoại.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, sim điện thoại số 0918.230.xxx.
  • - 01 (một) giỏ xách, màu đen có kích thước (30x23x10)cm, mặt ngoài giỏ xách có chữ bằng kim loại.
  • - Tiền Việt Nam: 49.691.000 đồng và 970.000 đồng, tổng cộng 50.661.000 đồng. Trong đó:
    • + Số tiền dùng để đánh bạc vào ngày 27/7/2023 là 6.052.000 đồng;
    • + Số tiền H thu lợi bất chính từ việc ghi số đề vào ngày 26/7/2023 là 970.000 đồng;
  • - Tiền Việt Nam: 2.540.000 đồng của S nộp do thu lợi bất chính từ việc đánh bạc vào ngày 26/7/2023.
  • - Tiền Việt Nam: 674.000 đồng của Huỳnh Thị P; 360.000 đồng của Trần Văn T; 187.000 đồng của Nguyễn Hoàng D là số tiền (chưa trả tiền thực tế mua đề cho bị cáo H) mà P, T, D dùng vào mục đích đánh bạc. Công an huyện Gò Công Tây đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà P, ông T, ông D và đã tịch thu số tiền trên theo các quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Căn cứ bản kết luận giám định số 628/KL-KTHS (Đ2), ngày 24/5/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: số tiền 49.691.000 đồng và số tiền 970.000 đồng gửi giám định là tiền thật.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKSGCT ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây truy tố các bị cáo S, H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo S và bị cáo H đều khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Cụ thể như sau:

Lần 1: Vào ngày 26/7/2023, bị cáo H ghi số đề của các đài gồm Xổ số kiến thiết Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai và Xổ số kiến thiết Hà Nội cho các con bạc. Sau khi ghi đề xong bị cáo H chụp ảnh và gửi tin nhắn qua Zalo cho S tổng cộng 13 tin nhắn, trong đó có 07 tin nhắn mua số đề của các đài gồm Xổ số kiến thiết Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai và 06 tin nhắn của đài Xổ số kiến thiết Hà Nội (H không nhớ rõ họ tên, địa chỉ của người mua từng con số đề trong phơi đề). Bị cáo S sau khi nhận được đã nhắn tin trả lời xác nhận việc có nhận 13 phơi đề trên từ bị cáo H. Nội dung của các tin nhắn thể hiện tổng số tiền mua đề trên 13 phơi đề trên là 20.114.000 đồng. Theo thỏa thuận số tiền bị cáo H thu của các con bạc là 15.689.000 đồng (78%) nhưng quá trình giao nhận tiền bị cáo đã làm tròn (để dễ thanh toán) và thu của các con bạc là 15.650.000 đồng, đưa cho bị cáo S số tiền 15.040.000 đồng (75%) nhưng bị cáo H chưa đưa cho bị cáo S, bị cáo H giữ lại thu lợi 610.000 đồng (03%). Sau khi có kết quả xổ số của các đài gồm Xổ số kiến thiết Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Nai và Xổ số kiến thiết Hà Nội, các bị cáo đã dò và xác định số tiền con bạc trúng đề là 12.500.000 đồng, gồm 8.575.000 đồng trúng các đài Miền Nam và 3.925.000 đồng trúng đài Miền Bắc.

Sau đó, bị cáo H đã lấy số tiền 75% mà bị cáo H còn giữ lại của bị cáo S (15.040.000 đồng - 12.500.000 đồng) chung tiền thắng đề cho các con bạc tại nhà bị cáo H với số tiền 12.140.000 đồng (73%) và giữ lại 360.000 đồng (2%). Đến 08 giờ ngày 27/7/2023, bị cáo S đến nhà bị cáo H nhận số tiền thu lợi từ việc đánh bạc của ngày 26/7/2023 là 2.540.000 (15.040.000 – 12.500.000) đồng.

Lần 2: Vào ngày 27/7/2023, bị cáo H ghi số đề của các đài gồm Xổ số kiến thiết Tây Ninh, An Giang và Bình Thuận cho 14 người mua đề (trong đó có 06 người chưa xác định được nhân thân), gửi 04 tin nhăn qua Zalo cho S. Trong đó xác định được 08 người cụ thể:

  • - Nguyễn Thị L mua số đề với tổng số tiền đánh bạc trên phơi đề là 1.400.000 đồng.
  • - Ngô Thị Y mua số đề với tổng số tiền đánh bạc trên phơi đề là 390.000 đồng.
  • - Trần Văn T mua đề với tổng số tiền mua đề trên phơi đề là 453.000 đồng (chưa đưa cho bị cáo H).
  • - Nguyễn Hoàng D mua đề với tổng số tiền mua đề trên phơi đề là 240.000 đồng (chưa đưa cho bị cáo H).
  • - Huỳnh Thị P mua đề với tổng số tiền mua đề trên phơi đề là 135.000 đồng (chưa đưa cho bị cáo H).

Ngoài ra, các con bạc sau đây còn đến trực T nhà bị cáo H để mua số đề gồm:

  • - Cao Văn N mua đề với tổng số tiền đánh bạc trên phơi đề là 102.000 đồng;
  • - Ngô Văn Đ mua đề với tổng số tiền đánh bạc trên phơi đề là 90.000 đồng;
  • - Ngô Văn T mua đề với tổng số tiền mua đề trên phơi đề là 15.000 đồng.

Riêng Ngô Thị P mua đề với tổng số tiền mua đề là 30.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo H chưa kịp ghi vào sổ ghi đề, chưa nhắn tin cho bị cáo S thì lực lượng Công an đã T hành kiểm tra, bắt quả tang thu giữ tang vật (chưa có kết quả xổ số).

Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 27/7/2023 trên phơi đề là 9.370.000 đồng. Trong đó số tiền thực tế mà H phải thu từ các con bạc là 7.298.000 đồng nhưng bị cáo H chỉ mới thu được 6.052.000 đồng do còn T, D và P chưa trả tiền mua đề cho bị cáo H.

Bị cáo H xin nhận lại 01 điện thoại hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 11, sim điện thoại số 0981.724.xxx. Đối với giỏ xách và 03 điện thoại hiệu Nokia, loại bàn phím không còn giá trị sử dụng thì bị cáo H từ chối nhận lại, tùy Tòa án xử lý. Bị cáo thống nhất xử lý theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Thanh Ncó đơn xin vắng mặt đồng thời có gửi văn bản trình bày ý kiến: đồng ý để Tòa án xử lý số tiền tạm giữ của bị cáo H, ông thống nhất để T tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H, ông không có ý kiến cũng không có yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo S và bị cáo H phạm tội “Đánh bạc”; theo quyết định truy tố đối với các bị cáo tại bản cáo trạng. Đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo S số tiền 80.000.000 đến 90.000.000 đồng, xử phạt bị cáo bị cáo H 60.000.000 đến 70.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:

  • + Tịch thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8Plus, sim điện thoại số 0943.145.xxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, sim điện thoại số 0918.230.xxx; Số tiền đánh bạc 9.370.000 đồng của ngày 27/7/2023 mà bị cáo H giữ và số tiền thu lợi bất chính 970.000 đồng của bị cáo H của ngày 26/7/2023 được trừ vào số tiền tạm giữ của bị cáo H; số tiền thu lợi bất chính 2.540.000 đồng của bị cáo S được trừ vào số tiền mà bị cáo S đã nộp.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) giỏ xách, màu đen có kích thước (30x23x10) cm, mặt ngoài giỏ xách có chữ bằng kim loại; 01 (một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model C2-01, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, mdel: C2-01, màu đen xám, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xám, model C01, không có sim điện thoại.
  • + T tục tạm giữ số tiền và tài sản còn lại để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.
  • + Lưu giữ hồ sơ vụ án: 01 (một) quyển tập có kích thước (20,5x15,5)cm, trên quyền tập có ghi chữ bút cầu, bên trong có 16 (mười sáu) tờ giấy có ghì các chữ và số; 13 (mười ba) tờ giấy, bên trong mỗi tờ có ghi các chữ và số;
  • - Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nói lời sau cùng là rất hối hận với lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được ở bên ngoài để có cơ hội lao động, chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Tây, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Thanh Ncó đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn T hành xét xử vụ án.

Những người làm chứng gồm Nguyễn Thị L, Trần Văn T, Nguyễn Hoàng D, Huỳnh Thị P, Cao Văn N, Ngô Văn Đ, Ngô Thị P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; Ngô Thị Y và Ngô Văn T vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên lời khai đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án. Sự vắng mặt của những người làm chứng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn T hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, các bị cáo cũng thừa nhận do muốn thu lợi bất chính nên bị cáo S đã rủ rê bị cáo H làm chủ lô đề. Phân công bị cáo H có nhiệm vụ tìm những người có nhu cầu mua đề để ghi đề và thu tiền mua đề của người mua đề. Sau đó tập hợp gửi cho bị cáo S bằng tin nhắn qua phần mềm Zalo trước khi có kết quả xổ số. Bị cáo S là người trực T bỏ tiền ra để cho bị cáo H trả cho người mua đề thắng đề. Các bị cáo xác định trong ngày 26/7/2023, số tiền bị cáo H bán cho người mua đề ghi trên phơi đề là 20.114.000 đồng nhưng bị cáo H thu thực tế từ người mua đề là 15.689.000 đồng (bị cáo H thu làm tròn là 15.650.000 đồng), số tiền người mua đề trúng đề là 12.500.000 đồng; ngày 27/7/2023 số tiền bị cáo H bán cho người mua đề ghi trên phơi đề là 9.370.000 đồng, số tiền mà bị cáo H phải thu thực tế từ người mua đề là 7.298.000 đồng nhưng bị cáo chỉ mới thu được 6.052.000 đồng do ông T, ông D và bà P chưa trả tiền cho bị cáo số tiền mua đề của ngày 27/7/2023.

Về việc xác định tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tính trên tổng số tiền ghi trên phơi đề (là số tiền các bị cáo bán cho người mua đề chưa trừ lại 22% khuY mãi) và số tiền mà các bị cáo chi trả cho người mua đề trúng đề nên tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo trong ngày 26/7 và ngày 27/7/2024 là 41.984.000 đồng. Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào quy định cũng như hướng dẫn về cách tính số tiền mà chủ đề dùng để đánh bạc, nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần xác định số tiền chủ đề dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề đã nhận của những người chơi số đề và số tiền mà chủ đề phải bỏ ra để trả cho người trúng. Do đó, tổng số tiền mà bị cáo S và bị cáo H đánh bạc xác định như sau: trong ngày 26/7/2023, số tiền các bị cáo thực tế đã nhận được từ người mua đề là 15.689.000 đồng (bị cáo H thu làm tròn là 15.650.000 đồng) và số tiền mà các bị cáo phải bỏ ra để trả cho người trúng đề là 12.500.000 đồng; ngày 27/7/2023 số tiền các bị cáo thực tế phải nhận từ người mua đề là 7.298.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo đánh bạc là tổng số tiền mà các bị cáo thực tế đã nhận của con bạc và tổng số tiền mà các bị cáo đã phải bỏ ra để trả cho người trúng đề, được tính là 35.448.000 (15.650.000 + 12.500.000 + 7.298.000) đồng. Tổng số tiền 35.448.000 đồng này vẫn nằm trong khoảng tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự nên không ảnh hưởng đến tội danh cũng như hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với cáo trạng, vật chứng, lời khai của người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo S và bị cáo H đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSGCT ngày 25/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây và kết luận của đại diện Viện kiểm sát đề nghị truy tố bị cáo S và bị cáo H về tội “Đánh bạc” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thu lợi bất chính mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực T trật tự công cộng, là khách thể được pháp luật bảo vệ. Hiện nay tình trạng đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền xảy ra rất phổ biến trên phạm vi cả nước nói chung, trên địa bàn huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang nói riêng. Từ việc đánh bạc trái phép có thể dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Vụ án có 02 bị cáo, mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo H là người giúp sức có vai trò tích cực như tìm kiếm con bạc, trực T giao dịch với con bạc để ghi lô đề, trực T nhận tiền và chi trả tiền thắng đề của con bạc, phân chia tỷ lệ % số tiền đánh bạc, tiền thu lợi bất chính; bị cáo S là người khởi xướng, rủ rê bị cáo H, là người bỏ tiền ra để trả tiền cho người mua đề thắng cược, tự chịu trách nhiệm lời lỗ trong quá trình chơi đề với con bạc nên vai trò của bị cáo S cao hơn bị cáo H.

[4] Về các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đã nộp số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Nhân thân: các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.

Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo khi lượng hình.

[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét toàn diện tính chất, mức độ hành vi, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy tội phạm mà các bị cáo thực hiện là xâm phạm đến trật tự công cộng; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước và sau khi phạm tội thì các bị cáo đều chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương; có khả năng cải tạo tốt; đều có con còn nhỏ trong độ tuổi từ 7 đến 16 tuổi, là độ tuổi cần được sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục tốt của cha mẹ không chỉ về thể chất mà còn quan trọng ở mặt tinh thần và giáo dục tốt đạo đức cho các con. Do đó, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật là áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tọi của bị cáo nhưng cũng thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật thì không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, cũng là tạo điều kiện cho các bị cáo trong thời gian cải tạo bản thân có cơ hội vừa lao động để có điều kiện kinh tế để chăm lo con nhỏ và gia đình vừa có thể giáo dục các con của các bị cáo thành công dân có đạo đức tốt, góp phần ổn định trật tự tại địa phương.

Như nhận định ở trên, bị cáo S có vai trò cao hơn bị cáo H nên hình phạt cho bị cáo S cũng được áp dụng cao hơn bị cáo H.

[6] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Hội đồng xét xử đã nhận định, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc ngày 27/7/2023 là 7.298.000 đồng. Nhưng bị cáo H thực tế thu được từ các con bạc là 6.052.000 đồng, do có 03 người là ông T, ông D và bà P chưa trả tiền mua đề cho bị cáo H. Số tiền của ông T, ông D và bà P cũng đã được Công an huyện Gò Tây truy thu xử phạt theo các quyết định xử phạt hành chính. Do đó, số tiền tạm giữ 49.691.000 đồng và 970.000 đồng, tổng cộng 50.661.000 đồng của bị cáo H được xử lý như sau:

  • + Số tiền dùng để đánh bạc vào ngày 27/7/2023 là 6.052.000 đồng (là tiền thực tế đã thu từ người mua đề). Đây là số tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Số tiền bị cáo H thu lợi bất chính từ việc ghi số đề vào ngày 26/7/2023 là 970.000 đồng nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • + Số tiền còn lại là 43.639.000 (50.661.000 – 6.052.000 – 970.000) đồng T tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.
  • - Số tiền 2.540.000 đồng của bị cáo S nộp do thu lợi bất chính từ việc đánh bạc vào ngày 26/7/2023, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 (một) quyển tập có kích thước (20,5x15,5)cm, trên quyển tập có ghi chữ bút cầu, bên trong có 16 (mười sáu) tờ giấy có ghì các chữ và số và 13 (mười ba) tờ giấy, bên trong mỗi tờ có ghi các chữ và số là vật chứng phạm tội nên được lưu trong hồ sơ vụ án.
  • - 01 (một) giỏ xách, màu đen có kích thước (30x23x10)cm, mặt ngoài giỏ xách có chữ bằng kim loại; 01 (một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model C2-01, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, mdel: C2-01, màu đen xám, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xám, model C01, không có sim điện thoại của bị cáo H, bị cáo H từ chối nhận, tài sản không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8Plus, sim điện thoại số 0943.145.xxx của bị cáo H và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, sim điện thoại số 0981.724.xxx của bị cáo S dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 11, sim điện thoại số 0981.724.xxx của bị cáo H. Bị cáo H xin được nhận lại nhưng Hội đồng xét xử xét thấy cần T tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.

[8] Các vấn đề khác:

Đối với hành vi mua bán số đề của các bị cáo từ cuối tháng 05/2023 đến ngày 25/7/2023, bị cáo S khai nhận là trong khoảng thời gian này bị cáo bị thua nhưng không nhớ rõ số tiền bao nhiêu, cũng không nhớ số tiền mua bán đề bao nhiêu; còn bị cáo H khai nhận đã thu lợi bất chính số tiền 2.000.000 đồng, cũng không nhớ rõ số tiền mua bán đề cụ thể bao nhiêu. Do không đủ tài liệu, chứng cứ để xem xét trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc đối với các bị cáo trong những lần đánh bạc trong khoảng thời gian trên nên Công an huyện Gò Công Tây đã ra quyết định xử phạt hành chính và tịch thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo H là đúng quy định pháp luật.

Số tiền 674.000 đồng của bà Huỳnh Thị P; 360.000 đồng của ông Trần Văn T; 187.000 đồng của ông Nguyễn Hoàng D là số tiền bà P, ông T, ông D dùng vào mục đích đánh bạc. Công an huyện Gò Công Tây đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà P, ông T, ông D và đã tịch thu số tiền trên theo các quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi mua số đề của Nguyễn Thị L, Ngô Thị Y, Huỳnh Thị P, Trần Văn T,Ngô Thị P, Ngô Văn Đ, Ngô Văn T, Cao Văn N và Cao Hoàng D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện Gò Công Tây ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định pháp luật.

Đối với những người mua số đề trong các ngày 26/7/2023 và ngày 27/7/2023 không xác định được nhân thân nên không xử lý là có cơ sở.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ một phần nên chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành S, bị cáo Ngô Kim H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thành S số tiền 80.000.0000 (tám mươi triệu) đồng.

Xử phạt bị cáo Ngô Kim H số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng.

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền dùng để đánh bạc là 6.052.000 đồng; 970.000 đồng số tiền bị cáo H thu lợi bất chính, được trừ vào tổng số tiền 50.661.000 đồng tạm giữ của bị cáo H; 2.540.000 đồng của bị cáo S thu lợi bất chính được trừ vào số tiền bị cáo S đã nộp; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 8Plus, sim điện thoại số 0943.145.xxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A57, sim điện thoại số 0981.724.xxx.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) giỏ xách, màu đen có kích thước (30x23x10)cm, mặt ngoài giỏ xách có chữ bằng kim loại; ; 01 (một điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, model C2-01, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, mdel: C2-01, màu đen xám, không có sim điện thoại; 01 (một) điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xám, model C01, không có sim điện thoại.
  • T tục tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, tên kiểu máy Iphone 11, sim điện thoại số 0981.724.xxx và số tiền tạm giữ còn lại là 43.639.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo H.
  • Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) quyển tập có kích thước (20,5x15,5)cm, trên quyền tập có ghi chữ bút cầu, bên trong có 16 (mười sáu) tờ giấy có ghi các chữ và số và 13 (mười ba) tờ giấy, bên trong mỗi tờ có ghi các chữ và số.
  • (đặc điểm tài sản theo biên bản ngày 05/7/2024 về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Tây và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây).
  1. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Thành S, Ngô Kim H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử P thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện GCT;
  • - Cơ quan điều tra - CA huyện GCT;
  • - Chi cục THADS huyện GCT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị N Ngân

Xử phạt bị cáo................................ năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Khấu trừ thu nhập đối với bị cáo ................. mỗi tháng là ................. đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ để sung vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo ..........cho Uỷ ban nhân dân thị trân Vĩnh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG về đánh bạc (gambling)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger