Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HSST

Ngày: 31/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Vi Ngọc Trung

- Bà Lương Thị Diện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Xuân Trường - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 29/03/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 17/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa đối với các bị cáo:

  1. Lại Văn D - Sinh ngày: 06/05/1998; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Xóm T, xã V, huyện M, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Lại Văn T và bà Nguyễn Thị H; Có vợ: Phạm Hà M và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Phạm Anh T1 - Sinh ngày: 06/10/1995; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Bản Đỏ, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Đình Đ và bà Hà Thị V; bị cáo không có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không

Các bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/11/2023, chuyển tạm giam ngày 10/11/2023, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Anh T1: Ông Hà Văn K - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1 - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà Nước tỉnh T và bà Lương Thanh V1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị hại: Anh Hà Văn Đ1 - Sinh năm 1989 (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Ông: Hà Minh Đ2 - Sinh năm 1972 (Bố đẻ). Có mặt;

2

Địa chỉ: Bản S, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

- Người làm chứng:

  • + Chị Hà Thị C, sinh năm: 1989; Anh Lương Ngọc H1, sinh năm: 1986. Đều có địa chỉ: Bản C, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Đều có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • + Anh Hà Văn H2, sinh năm: 1991; Anh Hà Minh H3, sinh năm: 1980. Đều có địa chỉ: Bản S, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt);
  • + Anh Hà Văn C1, sinh năm: 1992. Địa chỉ: Bản T, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt);
  • + Anh Hà Văn N, sinh năm: 1988. Địa chỉ: Bản S, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 31/10/2023 Lại Văn D đến nhà Phạm Anh T1 để rủ T1 đi uống rượu tại quán “Nhái Nhổn” của chị Hà Thị C ở bản S, xã P, Q. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Phạm Anh T1Lại Văn D uống rượu xong và chuẩn bị ra về, lúc này D đi ra cửa quán thì gặp anh Hà Văn Đ1 - sinh năm 1989 (trú tại bản Sại, xã P, huyện Q). Tại đây trước cửa quán của chị C, giữa Đ1D xảy ra xích mích cãi cọ, thách thức đánh nhau, lúc này anh Đ1 gọi điện thoại (M1) cho anh Hà Văn H2 ở bản sại xã P, huyện Q bảo anh H2 đến quán chị C nhưng anh Đ1 không nói đến quán để làm gì. Lúc này Phạm Anh T1 từ trong quán đi ra trước cửa quán, nghe được chuyện của Đ1D cãi cọ thách thức đánh nhau. Sau đó anh Hà Văn H2 đi xe mô tô đến nên T1 nghĩ là anh Đ1 gọi anh H2 đến để đánh T1D, nên T1 đấm và lùa đánh anh H2. Sau đó T1 quay lại chỗ anh Đ1, thấy D loạng choạng ngã, nghĩ là D bị đánh, nên T1 dùng tay vừa đẩy vừa đấm vào mặt anh Đ1, làm anh Đ1 ngã ngửa xuống mặt đường nhựa,T1 tiếp tục nhặt một viên gạch (Dạng gạch vồ) giơ lên định đập vào người Đ1, nhưng được D và người khác can ngăn nên T1 bỏ gạch xuống đất. Không dừng lại ở đó, sau khi can ngăn T1, D tiếp tục lao vào dùng chân, tay đấm, đạp, đá liên tiếp vào vùng mạn sườn, bụng, ngực và đầu khiến anh Đ1 nằm bất tỉnh chảy máu mũi, miệng. Thấy vậy chị Hà Thị CT1 nói với D là dừng lại nhưng D vẫn dùng chân đá vào người anh Đ1 cho đến khi Đ1 chảy máu mũi, máu mồm và T1 lao vào ôm D ra thì D mới thôi không đánh nữa. D sau đó đi về nhà, còn T1 ở lại lấy xe mô tô tại hiện trường mà T1 không biết xe của ai đi đến nhà anh Vi Văn C2 ở bản Đ, xã P, Q để nhờ anh C2 lấy xe ô tô chở anh Đ1 đi Bệnh viện cấp cứu. Khi quay lại thì không thấy anh Đ1 nên T1 để xe mô tô về vị trí cũ và trở nhà. Đ1 được người thân thuê xe đưa đi bệnh viện nhưng đã tử vong trên đường.

3

Sau khi biết tin Hà Văn Đ1 tử vong, khoảng 23h30p ngày 31/10/2023 Phạm Anh T1 đã đến Công an xã P, huyện Q đầu thú. Còn Lại Văn D ngày 01/11/2023 đến Công an tỉnh T đầu thú.

Theo kết quả khám hiện trường địa điểm xảy ra vụ án là phía trước cửa quán B “Nhái N1” của chị Hà Thị C, vị trí nơi xảy ra là mặt đường nhựa thuộc quốc lộ A. Tại hiện trường cơ quan điều tra phát hiện 01 viên gạch vỡ (Dạng gạch vồ) có kích thước (20x15x10) cm và tại nền đường có vết màu nâu đỏ khổng rõ hình thù, kích thước (32 x 21)cm, được cơ quan điều tra thu mẫu vật phẩm bằng cách dùng 3 que tăm bông thấm vết màu nâu đỏ và niêm phong gửi giám định (BL: 09; 10).

Theo kết luận giám định số 4546/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: “03 tăm bông gửi giám định đều có máu của Hà Văn Đl” (BL: 56).

Kết luận giám định tử thi số 4090/KLGĐTP-PC09 ngày 10/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận như sau:

  • - Các vết rách da, xây xước bầm tụ máu tại vùng: Đầu, mặt, ngực, tay trái.
  • - Tụ máu tổ chức dưới da đầu tại vùng đỉnh chẩm, trán hai bên, thái dương trái và một phần cơ thái dương trái
  • - Tụ máu màng mềm
  • - Phù não
  • - Tổ chức dưới da vùng ngực phải tụ máu rải rác
  • - Hai phổi xẹp màu sắc nhợt nhạt
  • - Máu không đông lẫn máu cục tại ổ bụng
  • - Sơ gan, dập, vỡ nhu mô gan phải
  • - Tụ máu thân dạ dày, niêm mạc dạ dày tụ máu tương ứng tổn thương tụ máu bên ngoài
  • - Các bộ phận khác không phát hiện tổn thương.
  • - Kết luận nguyên nhân chết là do suy tuần hoàn, suy hô hấp do dập, vỡ gan trên cơ thể, chấn thương sọ não, xơ gan. (BL:47,48)

Ngày 23/11/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã gửi văn bản số 127/CSĐT-ĐTTH cho Phòng K1 Công an tỉnh T về việc: Xác định rõ nguyên nhân chết đối với anh Hà Văn Đ1. Tại công văn phúc đáp số 712/CV-PC09 ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định: Tổn thương “dập, vỡ gan” là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong cho nạn nhân; trường hợp chỉ tổn thương “chấn thương sọ não” trên cơ thể xơ gan cũng có thể dẫn đến tử vong cho nạn nhân; trong trường hợp nạn nhân Hà Văn Đ1 bị tổn thương “dập, vỡ gan” kết hợp với “chấn thương sọ não trên cơ thể xơ gan” sẽ thúc đẩy quá trình tử vong nhanh hơn. (BL.51)

4

Cáo trạng số 18/CT-VKS-QH ngày 29/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hoá truy tố Lại Văn DPhạm Anh T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lại Văn DPhạm Anh T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 2 Điều 52, khoản 1 Điều 38, Điều 17 BLHS cho các bị cáo; Áp dụng thêm điểm p khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo Phạm Anh T1;

Xử phạt: Bị cáo Lại Văn D từ 11 năm 06 tháng tù đến 12 năm tù. Bị cáo Phạm Anh T1 từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù. Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị Toà án xem xét

Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, gia đình bị hại có đơn yêu cầu các bị cáo chi trả chi phí đám tang gồm có: Tiền xe đưa, đón bị hại Đ1 và người nhà đi bệnh viện: 3.500.000 đồng; C3 đồ mặc và đeo vào người: 13.870.000 đồng; Chi phí mua quan tài và đồ bỏ vào quan tài: 15.200.000 đồng; Chi phí cúng: 83.220.000 đồng; C3 xây mộ: 23.750.000 đồng; Trả tiền thu nhập của anh Đ1 là 14.500.000đ/tháng, kể từ thời điểm anh Đ1 chết (34 tuổi) đến khi anh Đ1 60 tuổi là 25 năm: 4.350.000.000 đồng; Chi trả tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 180.000.000 đồng. Tổng tiền yêu cầu bồi thường là: 4.669.540.000₫ (Bốn tỷ sáu trăm sáu chín triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).

Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận khoản bồi thường chi trả số tiền thu nhập hàng tháng của anh Đ1 kể từ thời điểm chết và một số chi phí mai tang, xây mộ pháp luật không quy định cho chi phí; chấp nhận khoản tiền bồi thường tổn thất tinh thần; chấp nhận các khoản sau trong chi phí đám tang: Tiền xe chở Đ1 đi viện và đi về nhà, chi mua và sửa chữa quan tài, chi mua vải đắp quấn người, chi mua vải đỏ và áo cỗ quan, chi mua hương, hoa quả, chi mua lăng mộ.

Về án phí: Bị cáo D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, bị cáo T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

* Người bào chữa cho bị cáo T1 - bà Lương Thanh V1 và Ông Hà Văn K đều vắng mặt có chung quan điểm bào chữa thông qua bản luận cứ bào chữa như sau: Những người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của VKS, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm một phần hình phạt cho bị cáo T1. Trong quá trình điều tra, bị

5

cáo T1 đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, Trưởng bản có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Gia đình bị cáo đã nộp 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hoá nhằm bồi thường, khắc phục hậu quả; mặt khác gia đình bị thuộc hộ cận nghèo, bản thân không có việc làm ổn định, đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung và án phí cho bị cáo T1. Về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét xử bị cáo mức án thấp nhất tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, bản thân trở thành công dân có ích.

* Quan điểm của người đại diện hợp pháp của bị hại - Ông Hà Minh Đ2: Đề nghị HĐXX xem xét hình phạt với mức án nặng nhất đối với hành vi mà các bị cáo gây ra; đề nghị HĐXX buộc các bị cáo bồi thường các khoản chi phí như đơn yêu cầu tổng số tiền là 4.669.540.000₫ (Bốn tỷ sáu trăm sáu chín triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Bao gồm:

  1. Xe đưa đi viện: Xe chở đi: 1.000.000 đồng; Xe chở về: 1.500.000 đồng; Xe chở anh em vào theo: 1.000.000 đồng, tổng = 3.500.000 đồng.
  2. Chi đồ mặc và đeo vào người: Quần áo dài (3 bộ): 1.800.000 đồng; Quần sịp: (5 cái): 500.000 đồng; Quần đùi: (5 cái): 600.000 đồng; Áo cộc (2 cái): 350.000 đồng; Giầy dép: 380.000 đồng; Mũ: 120.000 đồng; Khăn: 150.000 đồng; Dây thắt lưng: 200.000 đồng; C4, màn, gối: 650.000 đồng; Chiếu (03 đôi): 450.000 đồng; Nhẫn bạc (10 cái): 1.500.000 đồng; Nhẫn vàng (01 cái): 6.200.000 đồng; Vòng tay bạc: 550.000 đồng; Nồi cơm, ấm chén: 520.000 đồng, tổng = 13.870.000 đồng.
  3. Chi phí mua quan tài và đồ bỏ vào quan tài: Chi mua quan tài: 8.000.000 đồng; C3 mua đồ, thuê sửa chữa quan tài: 3.000.000 đồng; C3 mua chè bỏ quan tài (5kg): 1.000.000 đồng; Chi mua vải đắp + quấn người: 1.800.000 đồng; Vải đỏ + áo cỗ quan: 950.000 đồng; C3 mua phông chữ vô cùng thương tiếc: 450 000 đồng = 15.200.000 đồng.
  4. Chi phí cúng (4 bữa): Gao: 4 tạ = 7.200.000 đồng; Lợn: 04 con = 19.800.000 đồng; Bò 01 con: 15.200.000 đồng; Gà: 2,3 tạ = 14.210.000 đồng; Rau củ: 3.200.000 đồng; Rượu: 4.500.000 đồng; Gia vị, mắm muối: 1.350.000 đồng; H4, hoa, bánh kẹo: 3.300.000 đồng; Nước + chè phục vụ đám: 1.200.000 đồng; Ga: 1.520.000 đồng; Nước rửa chén 240.000 đồng; Thuê rạp + bát đũa: 3.200.000 đồng; Chi Mo (thầy cúng): 5.500.000 đồng; Chi kèn: 1.000.000 đồng; C3 cồng chiêng: 2.000.000 đồng = .
  5. Chi phí xây mộ: Gạch: 1.950.000 đồng; Xi: 800.000 đồng; Cát: 2.400.000 đồng; Lăng mộ: 15.000.000 đồng; C5 xây: 3.600.000 đồng.
  6. Tiền tổn thất tinh thần: 180.000.000 đồng

6

7. Tiền thu nhập hàng tháng của bị hại Đ1 kể từ thời điểm anh Đ1 bị đánh chết đến thời điểm anh Đ1 60 tuổi là 25 năm (trung bình mỗi tháng thu nhập của anh Đ1 là 14.500.000 đồng): 4.366.500.000 đồng.

Các bị cáo DT1 không đồng ý bồi thường tất cả khoản tiền mà đại diện của bị hại đưa ra; chỉ đồng ý liên đới trách nhiệm bồi thường cho gia đình bị hại số tiền mà pháp luật yêu cầu bồi thường.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Các bị cáo không có tranh luận với phần luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đều đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật TTHS.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Do đó đã đủ cơ sở để khẳng định: Đêm ngày 31/10/2023 sau khi thấy bạn mình là anh Lại Văn D to tiếng với anh Hà Văn Đ1, bị cáo Phạm Anh T1 đã có hành vi dùng tay đẩy đồng thời đấm vào mặt anh Hà Văn Đ1 khiến anh Đ1 ngã ngửa xuống đường. Khi anh Đ1 ngã xuống đường, T1 tiếp tục nhặt một viên gạch (Dạng gạch vồ) định đập lên người Đạt nhưng được D và người khác can ngăn nên T1 đã bỏ gạch xuống đường. Sau đó, thấy Đ1 vẫn chưa đứng dậy, Lại Văn D lại dùng chân, tay đạp, đá, đấm liên tiếp vào vùng mạn sườn, bụng, ngực và đầu của Hà Văn Đ1 đến khi Đ1 nằm bất tỉnh, chảy máu mũi, máu mồm mới thôi. Hậu quả của các hành vi trên là khiến cho anh Đ1 tử vong.

7

Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Mục đích của hành vi gây thương tích đối với anh Đ1 là để cảnh cáo chứ không nhằm mục đích tước đoạt tính mạng của anh Đ1. Vì vậy, việc truy tố và xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác được Nhà nước bảo vệ; gây mất an ninh trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét vai trò của các bị cáo: Vụ án thuộc đồng phạm nhưng chỉ ở mức độ giản đơn, có hai người tham gia. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất bộc phát, do mâu thuẫn cá nhân giữa hai bên nên không tự điều tiết được dẫn đến va chạm đánh nhau và gây đến cái chết cho anh Đ1. Do vậy khi lượng hình HĐXX sẽ xem xét, đánh giá vai trò của từng bị cáo phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo.

Bị cáo Lại Văn D khi thấy anh Đ1 ngã xuống đường tiếp tục dùng chân, tay đấm, đạp đá vào vùng mạn sườn, bụng, ngực và đầu của Đ1 đến khi Đ1 chảy máu mũi, máu mồm. Hành vi của D tương ứng với nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của anh Đ1 là tổn thương “dập, vỡ gan”. Bị cáo T1 có tham gia ban đầu là đấm vào mặt khiến Đ1 ngã xuống, có ý định dùng viên gạch (Dạng gạch vồ) để đánh Đ1 tuy nhiên đã dừng hành vi của mình sau đó. Do đó nên áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Lại Văn D là cao nhất, tiếp đến là bị cáo Phạm Anh T1.

[4] Về nhân thân, tiền án, tiền sự:

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trước khi phạm tội đều là công dân tốt, điều này đã được chính quyền địa phương xác nhận.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo được thôn, bản xin giảm nhẹ hình phạt và được chính quyền địa phương xác nhận. Gia đình bị cáo Lại Văn D đã đến thăm hỏi và hỗ trợ trước 20.000.000 đồng tiền mai táng phí cho gia đình bị hại; gia đình bị cáo Phạm Anh T1 đã đến thăm hỏi, mang một số nhu yếu phẩm cùng gia đình nhà bị hại làm bữa cơm mai táng cho bị hại Đ1 theo phong tục tập quán, tổng giá trị khoảng 9.000.000 đồng và đi đào mộ, xây mộ cùng gia đình bị hại, có hàng xóm và thôn, bản xác nhận, tại phiên toà đại diện người bị hại xác nhận là đúng. Tuy nhiên khoản bồi thường này là tự nguyện do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Gia đình bị cáo

8

Phạm Anh T1 đã nộp 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; Nhưng vẫn cần xem xét số tiền bồi thường khắc phục hậu quả nhiều hay ít để xác định hình phạt tương ứng.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo vì nguyên cớ, mâu thuẫn nhỏ nhặt nên đã thực hiện những vi xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Bị cáo Phạm Anh T1 sau khi đấm bị hại ngã thì dùng ghạch định tác động vào bị hại nhưng được D và mọi người can ngăn nên ngừng tác động đến bị hại. Bị cáo Lại Văn D mặc dù đã can ngăn T1 không dùng gạch đánh anh Đ1 nữa nhưng bị cáo D lại tiếp tục thực hiện các hành vi khác tác động lên anh Đ1 đến khi anh Đ1 chảy máu mũi, máu mồm, được T1 và mọi người can ngăn mới thôi. Đây là những hành vi coi thường pháp luật, thể hiện tính chất côn đồ, do đó cần áp dụng tình tiết “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo D theo điểm d khoản 1 Điều 52 BLHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự : Hội đồng xét xử chấp nhận khoản bồi thường về tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại; các khoản mai táng phí có hoá đơn chứng từ hợp lệ và phù hợp quy định pháp luật về yêu cầu bồi thường.

Buộc bị cáo Lại Văn D và bị cáo Phạm Anh T1 phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tiền tổn thất tinh thần và một số chi phí mai táng sau:

  • - Tiền bồi thường tổn thất tinh thần: 180.000.000 đồng
  • - Chi thuê xe chở anh Đ1 đi viện và về: 2.500.000 đồng
  • - Chi phí 01 bộ đầy đủ quần, áo, phụ kiện mặc trên người gồm: quần áo dài, quần sịp, quần đùi, áo cộc, giày dép, mũ, khăn, dây thắt lưng. Tổng cộng là 1.850.000 đồng.
  • - Chi phí mua quan tài gồm: 01 quan tài, chi phí sửa chữa quan tài, vải đỏ và áo cỗ quan. Tổng cộng là 14.150.000 đồng.
  • - H4, hoa quả: 1.500.000đ.
  • - Lăng mộ: 15.000.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo phải liên bồi thường cho bị hại là: 215.000.000 đồng (Hai trăm mười lăm triệu đồng). Chia theo tỷ lệ, bị cáo Lại Văn D 140.000.000 đồng, được trừ đi 20.000.000 đồng đã chi trước cho gia đình bị hại, còn lại 120.000.000 đồng; Bị cáo Phạm Anh T1 75.000.000 đồng, được trừ đi 50.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quan Hóa, còn lại 25.000.000 đồng.

Các khoản chi phí còn lại trong mai táng phí và khoản bồi thương tiền thu nhập hàng tháng của anh Đ1 kể từ thời điểm anh Đ1 bị đánh chết cho đến thời điểm anh Đ1 60 tuổi là những khoản không hợp lý và không phù hợp với quy định của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị HĐXX không xem xét. Do đó HĐXX không

9

chấp nhận các khoản chi phí hợp lý và không phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo Lại Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch, bị cáo Phạm Anh T1 là hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 134; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo; Căn cứ thêm điểm d khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự cho bị cáo D;

Căn cứ Điều 584, 587 và Điều 591 Bộ luật dân sự; Căn cứ hướng dẫn tại Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao, về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Căn cứ; Điều 135, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng lệ phí, án phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lại Văn D và bị cáo Phạm Anh T1 phạm tội “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác”;
  2. Xử phạt: Bị cáo Lại Văn D 11 (Mười một) năm 06 (sáu) tháng tù; Bị cáo Phạm Anh T1 08 (Tám) năm 06 (S) tháng tù.

Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày bị tạm giữ 01/11/2023.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lại Văn D và bị cáo Phạm Anh T1 phải liên đới bồi thường cho ông Hà Minh Đ2 tổng số tiền: 215.000.000đ (Hai trăm mười lăm triệu đồng) theo tỷ lệ:

Bị cáo D phải bồi thường số tiền 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng), được trừ đi 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) tiền mai táng phí, bị cáo còn phải bồi thường 120.000.000đ (Một trăm hai triệu đồng) cho người đại diện hợp pháp của bị hại là ông Hà Minh Đ2.

Bị cáo T1 phải bồi thường số tiền 75.000.000đ (Bảy mươi lăm triệu đồng) được trừ đi 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền đã nộp khắc phục hậu quả; bị cáo còn phải bồi thường 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) cho ông Hà Minh Đ2.

  1. Về án phí: Bị cáo Lại Văn D phải nộp 200.000đ án phí HSST và 6.000.000đ (Sáu triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch; bị cáo Phạm Anh T1 được miễn án phí HSST và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

10

  1. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhân:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện Bị hại;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - Phòng KTNV – THA TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS- CA huyện Quan Hóa;
  • - UBND xã Vạn Mai, Mai Châu, Hoà Bình;
  • - UBND xã Phú Thanh, Quan Hoá, Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS huyện Quan Hóa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vi Ngọc Trung

Lương Thị Diện

Ngô Thị Thanh

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HSST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

  • Số bản án: 22/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lại Văn Dương và Phạm Anh Tuấn phạm tội“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger