Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 30-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Phương

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Anh Đào – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Trí - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Phú C (Tên gọi khác Hà Văn C1) Sinh ngày 13-7-2000 tại tỉnh Yên Bái. Nơi ở: Khu N, xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 5/12. Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văn T, sinh năm 1976, trú tại: Khu N, xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Con bà Dương Thị T1, sinh năm 1975, hiện trú tại: thôn D, xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vợ con chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10-7-2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Yên Bái, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hà Thị L - Trợ giúp viên pháp lý. Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Y.

- Bị hại:

  • + Anh Nguyễn Văn L1- sinh năm 1992. Vắng mặt
  • + Chị Đinh Thị X, sinh năm 1996. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Lý Thị N, sinh năm 2006. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ
  • + Ông Hoàng Đình K, sinh năm 1973. Vắng mặt
  • Địa chỉ: Thôn P, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái.

- Người làm chứng:

  • + Chị Dương Thị D, sinh năm 1998
  • Địa chỉ: Thôn R, xã B, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
  • + Chị Sùng Thị G (tức Sùng Thị D1), sinh năm 2005. Vắng mặt.
  • Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Phú C (Hà Văn C1) là thanh niên chơi bời lêu lổng và sử dụng chất ma túy, để có tiền tiêu sài bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể. Ngày 09-7-2024 C1 mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 21B1-102.49 của chị Lý Thị N và điều khiển vào thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, mục đích thăm chị Giàng Thị S mới sinh con. Khoảng 13 giờ cùng ngày C1 đi đến đoạn đường liên thôn thuộc địa phận xã H, huyện T thì xe bị hỏng và hết xăng, nên C1 phải dắt xe, đi một đoạn đến ngã ba thôn Y, xã H, huyện T, phát hiện thấy trong sân của một nhà dân ven đường có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future F1, biển số 21F1-212.52 vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. Quan sát thấy không có người, C1 dựng chiếc xe của mình ở ven đường rồi đi đến chỗ chiếc xe 21F1-212.52 quay đầu xe, nổ máy và điều khiển xe đi tiếp vào xã H, đi được một đoạn đến khu vực dốc Y thuộc thôn Y, xã H thì C1 dừng xe mở cốp xe kiểm tra thấy một số đồ vật, tài liệu nhưng không có giá trị nên đã vứt xuống ven đường rồi tiếp tục đi đến nhà chị S, chơi ở nhà chị S một lúc C1 tiếp tục điều khiển xe vào huyện V với mục đích bán hoặc cắm xe lấy tiền tiêu sài. Trên đường đi đến khu vực thôn Bản Chiềng, xã H, C1 dừng xe dùng một chiếc cờ lê có sẵn trong xe tháo biển số xe sau đó vứt cả cờ lê và biển số xe vào bụi cây ven đường.

Qua công tác điều tra thu thập chứng cứ, tại địa bàn huyện V, tỉnh Yên Bái Công an đã phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future không gắn biển số, đã tạm giữ người và phương tiện để làm rõ, Căn cứ lời khai của C1, Công an thu giữ được trang phục gồm quần, áo, mũ và dép do C1 sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp, phù hợp với hình ảnh do camera an ninh ghi lại và thu giữ được toàn bộ đồ vật, tài liệu của anh Nguyễn Văn L1 để trong cốp xe do C1 đã vứt xuống ven đường.

Tại kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐ ĐG ngày 12-7-2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự huyện T kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Future F1, màu sơn đen, nâu biển số 21F1-212.52 xe cũ, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị là 22.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSTY ngày 18-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên đã truy tố bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) đã khai báo thành khẩn, thừa nhận toàn bộ hành vi của bản thân như bản cáo trạng của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái là đúng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Future F1, màu sơn đen, nâu không gắn biển số; 01 biển số 21F1- 212.52; 02 phiếu chụp X-Q, 02 phiếu kết quả nội soi đều do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Y cấp đều mang tên Nguyễn Văn L1; 01 áo mưa màu trắng cũ; 01 quyển vở viết cũ đã qua sử dụng; 03 khẩu trang màu trắng cũ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 21B1-102.49. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã làm rõ chủ sở hữu và trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 01 chiếc cờ lê bị cáo khai dùng để tháo ốc biển số xe mô tô sau đó vứt vào bụi cây ven đường cùng chiếc biển số xe, quá trình điều tra đã truy tìm nhưng không được, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng bị vỡ nát đã cũ, tiến hành cắm sạc không vào nguồn điện, không kiểm tra được chi tiết bên trong; 01 áo phông cộc tay màu trắng đã cũ; 01 quần bò màu xanh đã cũ, thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo xin được nhận lại, nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì, nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị về hành vi của bị cáo gây thiệt hại nhưng không lớn, nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo từ 6 tháng đến 01 năm tù.

Về án phí đề nghị miễn cho bị cáo toàn bộ tiền án phí sơ thẩm vì thuộc người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn giảm tiền án phí.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận tội và nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo và không có ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và lời khai của những người làm chứng. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 09-7-2024, tại khu vực ngã ba thôn Y, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) lợi dụng sự sơ hở, buông lỏng quản lý tài sản của gia đình anh Nguyễn Văn L1 và chị Đinh Thị X, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Future F1, màu sơn đen, nâu biển số 21F1- 212.52 có giá trị là 22.400.000 đồng. Xét bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, để có tiền tiêu sài và sử dụng ma túy bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần thiết phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm trước pháp luật.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Thấy rằng, bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) không có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo là đối tượng lười lao động, thường xuyên vắng mặt tại địa phương và sử dụng chất ma túy. Do đó cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa nói chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra, xác minh không đủ cơ sở để xác định nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại anh Nguyễn Văn L1 và chị Đinh Thị X đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Future F1, màu sơn đen, nâu không gắn biển số; 01 biển số 21F1- 212.52; 02 phiếu chụp X-Q, 02 phiếu kết quả nội soi đều do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Y cấp đều mang tên Nguyễn Văn L1; 01 áo mưa màu trắng cũ; 01 quyển vở viết cũ đã qua sử dụng; 03 khẩu trang màu trắng cũ. Cơ quan điều tra đã trả lại đầy đủ cho anh L1 là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 21B1-102.49 đăng ký xe mang tên ông Hoàng Đình K giao cho chị N là con dâu quản lý, đã được làm rõ không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng bị vỡ nát đã cũ, tiến hành cắm sạc không vào nguồn điện, không kiểm tra được chi tiết bên trong; 01 áo phông cộc tay màu trắng đã cũ; 01 quần bò màu xanh đã cũ, thu giữ của bị cáo, không phải là vật chứng vụ án. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị được xin lại, do đó cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo có đơn xin miễn án phí Hình sự sơ thẩm, do là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn, thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo, nhận thấy không phù hợp nên không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo: Dương Phú C (Hà Văn C1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Dương Phú C (Hà Văn C1) 01(Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 10-7-2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màn hình cảm ứng bị vỡ nát đã cũ, tiến hành cắm sạc không vào nguồn điện, không kiểm tra được chi tiết bên trong; 01 áo phông cộc tay màu trắng đã cũ; 01 quần bò màu xanh đã cũ.
    • Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên ngày 06-9-2024.
  4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • Miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho Dương Phú C (Hà Văn C1).
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
    • Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo đối với yêu cầu liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND huyện Trấn Yên;
  • - Công an huyện Trấn Yên;
  • - Chi cục THADS huyện Trấn Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Bị cáo; bị hại, người có QL&NVLQ;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trấn Yên;
  • - THA hình sự (4);
  • - Lưu: HS, TA.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Ngọc Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Phú Cường phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger