Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 5 -2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Kiệt.

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Phạm Quốc Thân

2. Ông Đinh Văn Thông

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thạch Thảo- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số187/2020/TLST- DS ngày 12 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024.

1.Nguyên đơn:

  • 1.1. Ông Nguyễn Trung H, sinh năm 1959.
  • 1.2. Bà Hoàng Thị Kim K, sinh năm 1964.

Cùng địa chỉ: H N, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Ông H ủy quyền cho bà Hoàng Thị Kim K đại diện, văn bản ủy quyền ngày 14/3/2017.

2.Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

3.Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  • 3.1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • 3.2. Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N và bà H1:Ông Phạm Văn L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Văn bản ủy quyền ngày 08/12/2023; Số chứng thực: 158/2023; Quyển số: 01-SCT/CK,ĐC.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn phản tố bổ sung ngày 21/11/2017 và ngày 26/12/2017, bản tự khai, các lời khai có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Trung H và bà Hoàng Thị Kim K do bà Khánh đại diện trình bày: Năm 2015, vợ chồng ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị N lấn chiếm khoảng không trên đất của gia đình bà. Bà đòi nhiều lần không trả lại còn vu khống cho gia đình bà lấn chiếm đất của gia đình ông L, bà N và ông L, bà N đã khởi kiện ra Tòa buộc gia đình bà phải bồi thường cho gia đình ông L, bà N. Ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã đưa vụ án ra xét xử bằng bản án số 11/2019/DS-ST. Không đồng ý với bản án trên, ngày 09/9/2019 vợ chồng bà đã kháng cáo. Tại bản án số 58/2020/DS-PT ngày 15/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên hủy một phần bản án sơ thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất có diện tích 5,72m² . Ngày 23/4/2021 vợ chồng bà có đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố, yêu cầu ông L, bà N trả cho vợ chồng bà diện tích đất chiếm là 5cm x 32m = 1,6m² và thanh toán toàn bộ chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng.

* Tại đơn trình bày ý kiến ngày 08/12/2023; bà Nguyễn Thị N, ông Phạm Văn L và bà Vũ Thị H1 do ông L đại diện trình bày: Ông L, bà N và bà H1 nhất trí với bản án số 11/2019/DS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh. Hiện tại các ông, bà vẫn giữ nguyên yêu cầu, không chấp toàn bộ yêu cầu phản tố của bà K và ông H. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và xin được vắng mặt tại phiên Tòa.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Bà K yêu cầu bị đơn trả lại diện tích đất 1,6m²:

Căn cứ Bản trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 242/2018 ngày 12/7/2018 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh L1 xác định: Thửa đất 411 của nguyên đơn được giới hạn bởi các điểm (4,5,6,7,4) có diện tích là 175,9m2 và thửa đất số 136 của bị đơn được giới hạn bởi các điểm (h,q,i,z',z,j,k',0,4,b,g,7,h) có diện tích 682,5m2, 02 thửa đất này có ranh hiện trạng và ranh bản đồ địa chính trùng khớp, đồng thời nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý với Kết quả đo trích lục bản đồ địa chính nên không có cơ sở xác định thửa đất 136, tờ bản đồ số 18 lấn chiếm thửa đất 411, tờ bản đồ số 18.

Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là không có cơ sở nên không chấp nhận.

* Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với toàn bộ yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngày 04/01/2017, bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trung H và bà Hoàng Thị Kim K phải phá dỡ mái tôn được gắn trên tường nhà ông H, bà K. Ngày 21/11/2017 và ngày 26/12/2017 bà Hoàng Thị Kim K có đơn phản tố bổ sung yêu cầu ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị N phải trả lại diện tích đất lấn chiếm và đòi bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và tài sản. Ngày 28/8/2019, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã đưa vụ án ra xét xử bằng bản án số 11/2019/DS-ST. Không đồng ý với bản án trên, ngày 09/9/2019 vợ chồng bà K, ông H đã kháng cáo. Ngày 19/3/2020, bà K có đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố về đòi bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và tài sản. Tại bản án số 58/2020/DS-PT ngày 15/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã tuyên hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 11/2019/DS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án đối với yêu cầu giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất có diện tích 5,72m². Ngày 23/3/2021, bà K có đơn xin rút một phần yêu cầu phản tố chỉ yêu cầu ông L, bà N trả cho vợ chồng bà diện tích đất chiếm là 5cm x 32m = 1,6m² và thanh toán toàn bộ chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng. Ngày 26/4/2021, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh ban hành Thông báo số 45/TB-TA về việc thay đổi địa vị tố tụng; Bị đơn ông Hoàng Trung H2 và bà Hoàng Thị Kim K trở thành nguyên đơn trong vụ án và nguyên đơn Nguyễn Thị N trở thành bị đơn và quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tài sản tranh chấp và nơi cư trú của bị đơn tại phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

[2] Về tố tụng:

2.1. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án xác định ông Hoàng Trung H2, sinh năm 1959 (chồng bà K) là nguyên đơn trong vụ án. Tuy nhiên, ngày 13/01/2020 ông Nguyễn Trung H đã có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã đình chỉ đối với yêu cầu kháng cáo của ông H. Do đó, ông H không phải là nguyên đơn trong vụ án, nên Hội đồng xét xử không tiếp tục đưa ông H vào tham gia tố tụng.

2.2. Bị đơn bà Nguyễn Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị H1 ủy quyền cho ông Phạm Văn L đại diện. Xét việc ủy quyền trên của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định pháp luật nên chấp nhận. Ngày 09/5/2024, ông Phạm Văn L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông L.

[3] Về nội dung tranh chấp: Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1,6m² và thanh toán toàn bộ chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng, nhận thấy:

3.1. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại 1,6m² đất: Tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2427/2018 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai - Chi nhánh L2 hiện ngày 12/7/2018 thì:

Thửa đất số 411 (do ông L, bà N quản lý và sử dụng) được giới hạn bởi các điểm (4,5,6,7,4) có diện tích là 175,9m² .

Thửa đất số 136 (do ông H, bà K quản lý và sử dụng) được giới hạn bởi các điểm (1,2,3,4,7,1) có diện tích 669,6 m².

Các đương sự đều thống nhất ranh hiện trạng là ranh tranh chấp và trùng với ranh bản đồ địa chính và ranh giới của thửa đất 411 và thửa 136 là chân tường căn nhà trên thửa 411.

Như vậy, Phần diện tích đất bà K tranh chấp được giới hạn bởi các điểm (g,d,c,k,e,0,4,g) có diện tích 1,6m² nằm ngoài thửa đất số 411, thuộc thửa 136, do ông H và bà K đang quản lý. Ông L, bà N không có lấn chiếm và không có tranh chấp. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà K không có cơ sở chấp nhận.

3.2. Về chi phí tố tụng: Tại bản án số 11/2019/DS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh đã xem xét và giải quyết xong toàn bộ chi phí tố tụng. Đương sự không có kháng cáo về nội dung này và bản án số 58/2020/DS-PT ngày 15/5/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cũng đã có xem xét và giải quyết về chi phí tố tụng; Hiện nay bản án trên đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, yêu cầu của bà K về việc buộc bên bà N phải thanh toán lại chi phí tố tụng là không có cơ sở xem xét.

[4] Về án phí: Bà Hoàng Thị Kim K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 273- Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Kim K về việc: Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn L phải trả lại diện tích đất lấn chiếm là 1,6m².
  2. Về án phí: Bà Hoàng Thị Kim K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí bà K đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0008532 ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh. Bà K đã nộp đủ án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai ;
  • - VKSND TP Long Khánh;
  • - THADS TP Long Khánh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Anh Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger