TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2024
V/v “tranh chấp khác về hôn nhân
gia đình về yêu cầu không công nhận là vợ chồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Vĩnh Lâm
- Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Mãi – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp khác về hôn nhân gia đình về yêu cầu không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu N, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện T, tỉnh Long An. (xin vắng mặt)..
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện T, tỉnh Long An (vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 của nguyên đơn Trần Thị Thu N thì nội dung khởi kiện của nguyên đơn được tóm tắt như sau: Bà Trần Thị Thu N và ông Huỳnh Văn T tự chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1994 cho đến nay nhưng không có đăng ký kết hôn. Cả hai có 01 con chung tên là Huỳnh Mỹ L, sinh năm 1995. Từ sau khi sinh con, thì giữa bà N và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, hai bên đã ly thân từ năm 2021. Nay bà N khởi kiện ông T ra Tòa án, yêu cầu được ly hôn với ông T.
Những vấn đề liên quan đến con chung, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Huỳnh Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện yêu cầu khởi kiện của bà N. Tuy nhiên, ông T không có bất kỳ ý kiến nào đối với yêu cầu khởi kiện của bà N để gởi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Do bà N và ông T không có đăng ký kết hôn nên Tòa án không tổ chức hòa giải về hôn nhân. Ông T không tham gia các phiên họp kiểm tra chứng cứ và hòa giải. Bà N có đơn đề nghị không hòa giải, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật. Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 02 để tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân của bà N và ông T, thấy rằng: Bà N xác định hai bên tự chung sống với nhau vào năm 1994, nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Ông T không có ý kiến nào phản đối lời trình bày này của bà N. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 113/UBND-XNTTHN ngày 05/8/2022 của UBND xã K, huyện T, tỉnh Long An thể hiện ông Huỳnh Văn T chung sống như vợ chồng với bà Trần Thị Thu N từ năm 1994 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình, thì bà N và ông T không được công nhận là vợ chồng.
[2.2] Về quyền nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con: Bà N xác định con chung đã trưởng thành, không bị mất năng lực hành vi dân sự, các đương sự không ai yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung của các bên trong vụ án này. Trường hợp sau này các đương sự có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn Trần Thị Thu N phải chịu 300.000đ án phí. Bị đơn Huỳnh Văn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận bà Trần Thị Thu N và ông Huỳnh Văn T là vợ chồng.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Thu N phải chịu 300.000đ. Chuyển số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai thu số 0003529 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh sang thi hành án phí, nên bà N không phải nộp tiếp. Ông T không phải chịu án phí.
- Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN về tranh chấp khác về hôn nhân gia đình về yêu cầu không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp khác về hôn nhân gia đình về yêu cầu không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ngân và anh Thành không đăng ký kết hôn, nhưng chị Ngân có yêu cầu ly hôn
