TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2024 V/v tranh chấp: "Ly hôn, con chung" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khảm và ông Trần Văn Học
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Tiệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 288/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp “ly hôn, con chung", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981 (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Đều cư trú: Thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Nguyễn Thanh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, Giấy chứng nhận kết hôn số 10 ngày 31 tháng 01 năm 2004. Sau ngày cưới, vợ chồng sinh sống cùng gia đình ông S. Tình cảm bình thường đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông S không chăm sóc, quan tâm và có bất kỳ trách nhiệm gì với gia đình, với bà và các con. Từ năm 2017, ông S bỏ ra ngoài sinh sống và sống ly thân với bà từ đó tới nay. Vợ chồng đã dàn xếp để hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Bà xác định không còn tình cảm với ông S, yêu cầu được ly hôn.
Về con chung: Bà và ông S có 03 con chung là Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/11/2004, Nguyễn Gia H, sinh ngày 22/10/2009 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/01/2015. Hiện cháu L đã thành niên, đang học trường Đại học L1. Cháu L đã thành niên, tự lao động để bảo đảm cuộc sống cá nhân, ly hôn, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu H và cháu H1 đang ở cùng bà N. Ly hôn, bà đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 cháu, không yêu cầu ông S phải cấp dưỡng. Hiện tại, bà đang làm nha khoa tại phòng khám N1, địa chỉ: Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Thu nhập hàng tháng khoảng 8.000.000₫.
Về tài sản, công nợ, công sức và đất canh tác: Bà Như không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh S vắng mặt tại phiên tòa, quá trình giải quyết vụ án ông S cũng không đến Tòa án để làm việc nên không có lời trình bày. Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông Nguyễn Hữu Đ là bố đẻ ông Nguyễn Thanh S. Ông Đ cho biết:
Về việc kết hôn giữa ông S và bà N theo bà N trình bày là đúng. Sau ngày cưới, bà N, ông S sinh sống cùng gia đình ông. Được khoảng 02 – 03 năm thì vợ chồng ông cho ông S, bà N ra ở riêng. Quá trình chung sống, giữa bà N, ông S có phát sinh mâu thuẫn gì hay không ông không nắm được, vợ chồng ông chưa khi nào phải tiến hành hòa giải cho hai bên. Khoảng 02 năm trở lại đây, ông S thay đổi công việc và làm tại thành phố Hà Nội, ông không rõ công việc và địa chỉ cụ thể, khoảng một vài tháng ông S mới về nhà một lần.
Khi nhận được văn bản của Tòa án, ông có thông báo cho ông S, tuy nhiên, do không hỏi nên nguyện vọng của ông S là như thế nào ông không biết.
* Xác minh tại UBND xã B thể hiện:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Thanh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B ngày 31/01/2004, thể hiện tại số thứ tự 10, sổ đăng ký kết hôn, quyển số 01 năm 2004. Sau ngày cưới, bà N về nhà ông S làm dâu và làm, ăn, ở chung cùng gia đình ông S đến khoảng năm 2011, năm 2012 thì vợ chồng ra ở riêng. Trong quá trình chung sống, theo dư luận địa phương giữa bà N, ông S phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông S chơi bời cờ bạc dẫn đến nợ nần. Ngoài ra, từ khoảng năm 2020, địa phương thấy Ông S không còn thường xuyên ở chung nhà với bà N, chỉ thỉnh thoảng ông S mới về và sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ của mình ở cùng thôn.
Về con chung: Ông S, bà N có 03 con chung là Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/11/2004, Nguyễn Gia H, sinh ngày 22/10/2009 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/01/2015. Cháu L đã trưởng thành, hiện đang học đại học tại Hà Nội. Cháu H và cháu H1 hiện đang ở cùng bà N.
Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định, bị đơn không đến Tòa án để làm việc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn Nguyễn Thanh S. Về con chung: cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/11/2004 đã trưởng thành; bà N tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc hai cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 22/10/2009 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/01/2015; ông S không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, đất canh tác và công sức: Bà Như không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bà N có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, ông S hiện trú tại Thôn Y, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với ông Nguyễn Thanh S nhưng ông S vẫn không đến Tòa án để làm việc. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục đưa vụ án ra xét xử.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Do đó, quan hệ hôn nhân và gia đình giữa bà N và ông S là hợp pháp.
Quá trình chung sống, theo bà N vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông S không chăm sóc, quan tâm và có bất kỳ trách nhiệm gì với gia đình, với bà và các con. Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc đã triệu tập nhiều lần hợp lệ nhưng ông S vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử không có căn cứ nào để hòa giải, đoàn tụ vợ chồng. Bản thân ông S cũng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với bà N. Xét thấy, ông S và bà N đã sống ly thân từ lâu, bà N kiên quyết xin ly hôn với ông S. Như vậy chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà N và ông S đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu xin ly hôn của bà N đối với ông S là có căn cứ cần chấp nhận.
- Về con chung: Bà N, ông S có 03 con chung là Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/11/2004, Nguyễn Gia H, sinh ngày 22/10/2009 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/01/2015. Chị L hiện đã thành niên, tự lao động để bảo đảm cho cuộc sống cá nhân. Bà Như k yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Cháu H và cháu H1 đang ở cùng bà N. Cả hai cháu đều có nguyện vọng ở cùng bà N khi vợ chồng ly hôn, bà N cũng có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cả 02 con và có công việc, thu nhập, chỗ ở ổn định để bảo đảm việc nuôi dưỡng các con. Ông S không thể hiện quan điểm, nguyện vọng của mình. Do vậy, cần giao cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu H và H1 là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Bà Như không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản, công nợ, công sức và đất canh tác: Bà Như không yêu cầu Tòa án giải quyết, quá trình giải quyết vụ án ông S vắng mặt nên không có ý kiến, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu của đương sự.
- Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Thanh S.
- Về con chung: Chị Nguyễn Gia L, sinh ngày 27/11/2004, đã thành niên, tự lao động bảo đảm cuộc sống của cá nhân.
Bà Nguyễn Thị N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 22/10/2009 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 18/01/2015; ông Nguyễn Thanh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0003123 ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Xác nhận bà N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hưng |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, con chung
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nh xin ly hôn anh S do mâu thuẫn gia đình
