|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BÒNG TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BÒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Bà Hồ Thị Hồng Thuỷ
- + Ông Ngô Văn Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Non - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa, đối với bị cáo:
- Huỳnh Thị O, sinh ngày 09 tháng 3 năm 1981; tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1956; chồng Nguyễn T1, sinh năm 1978, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: ngày 16/01/2023 bị Công an xã T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Võ Thị Hà T2, sinh năm 1983. Địa chỉ: T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Chị Lê Thị Vi N, sinh năm 1988. Địa chỉ: T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Chị Đỗ Thị Ánh T3, sinh năm 1979. Địa chỉ: T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1979. Địa chỉ: T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 19/3/2023, Lê Thị Vi N, Đỗ Thị Ánh T3 và Huỳnh Thị O, Võ Thị Hà T2 có qua nhà bà Nguyễn Thị S để đánh bạc dưới hình thức đánh bài T4 lên, ăn thua bằng tiền, theo luật chơi thông thường, mỗi ván bài thì người chơi được chia 13 lá bài từ bộ bài Tây 52 lá, rồi bắt đầu đánh vòng tròn. Trong số 04 người chơi, người đầu tiên đánh hết tất cả các lá bài trên tay xuống dưới sòng bài là người “Về nhất” (hay còn gọi là “Ăn nhất”), người thứ hai đánh hết tất cả các lá bài trên tay xuống dưới sòng bài là người “Về nhì” (hay còn gọi là “Ăn nhì”), người thứ ba đánh hết tất cả các lá bài trên tay xuống dưới sòng bài là người “Về ba” (hay còn gọi là “Thua ba”), người cuối cùng còn các lá bài trên tay là người “Về út” (hay còn gọi là “Thua út”).
Các bà O, T2, N, T3 cùng thống nhất tỷ lệ thắng thua như sau:
Kết thúc một ván bài: Người “Thua út” chung cho người “Ăn nhất” 20.000 đồng, người “Thua ba” chung cho người “Ăn nhì” 10.000 đồng.
Trong mỗi ván bài: Người nào đánh lá bài “2 Cơ” hoặc “2 Rô” xuống dưới sòng bài mà bị người khác bắt “Tứ quý” (là đánh 04 lá bài giống nhau, ví dụ như 04 lá bài 8, 04 lá bài K,...) thì người đánh lá bài “2 Cơ” hoặc “2 Rô” phải chung cho người bắt “Tứ quý” số tiền 20.000 đồng; tương tự như trên nếu đánh lá bài “2 Chuồn” hoặc “2 Bích” mà bị bắt “Tứ quý” thì phải chung số tiền 10.000 đồng.
Người nào đánh đôi lá bài 2 xuống dưới sòng bài mà bị người khác bắt “Bốn đôi thông” (là 04 đôi lá bài giống nhau liên tiếp, ví dụ như: Đôi 4 đôi 5 đôi 6 đôi 7; đôi 9 đôi 10 đôi J đôi Q;...) thì người đánh đôi lá bài 2 phải chung tiền theo lá bài 2 bị bắt, tương ứng lá bài “2 Cơ” hoặc “2 Rô” là 20.000 đồng, “2 Chuồn” hoặc “2 Bích” là 10.000 đồng (ví dụ đánh đôi 2 gồm lá bài “2 Cơ”, “2 Chuồn” mà bị bắt “Bốn đôi thông” thì chung 30.000 đồng; đánh đôi 2 gồm lá bài “2 Cơ”, “2 Rô” mà bị bắt “Bốn đôi thông” thì chung 40.000 đồng, đánh đôi 2 gồm lá bài “2 Chuồn”, “2 Bích” mà bị bắt “Bốn đôi thông” thì chung 20.000 đồng). Ngoài ra “Bốn đôi thông” cũng bắt được 01 lá bài 2 giống như “Tứ quý”.
Nếu người nào đánh hết tất cả các lá bài trên tay xuống dưới sòng bài mà 03 người còn lại chưa đánh được lá bài nào dưới sòng (đều còn đủ 13 lá bài trên tay) thì người đó thắng “Ăn trắng”, người “Ăn trắng” sẽ được những người còn lại chung số tiền 40.000 đồng mỗi người. Ngoài ra, khi “Ăn trắng” mà trong bài của người thua có lá bài “2 Cơ” hoặc “2 Rô” thì người thua chung thêm 20.000đồng/1 lá bài, có lá bài “2 Chuồn” hoặc “2 Bích” thì chung thêm 10.000đồng/1 lá bài.
Đến 17 giờ 10 phút cùng ngày, Huỳnh Thị O, Võ Thị Hà T2, Đỗ Thị Ánh T3 và Lê Thị Vi N bị Tổ công tác phát hiện lập biên bản, tạm giữ số tiền 670.000 đồng trên chiếu bạc là tiền mà những người trên đang sử dụng đánh bạc.
Đối với bà Huỳnh Thị O, ngày 16/01/2023 bị Công an xã T ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 05/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép, hình thức phạt tiền, số tiền 1.250.000 đồng, ngày 02/02/2023 thì Huỳnh Thị O chấp hành xong quyết định xử phạt.
Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 05 tháng 10 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Huỳnh Thị O về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị O phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị O phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước Tiền mặt: 670.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 07 (bảy) bộ bài Tây, loại bài 52 lá, trong đó có 02 bộ đã qua sử dụng và 05 bộ chưa qua sử dụng; Trả lại cho bà Huỳnh Thị O tiền mặt 2.730.000 đồng; Trả lại cho ông Nguyễn T1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76G1-530.37, nhãn hiệu HONDA, số loại C100, số khung: RLHHA08018Y50097, số máy: HA08E1002253, màu nâu, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thị O đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Ngày 19/3/2023, bị cáo cùng với Lê Thị Vi N, Đỗ Thị Ánh T3, Võ Thị Hà T2 có đánh bạc dưới hình thức đánh bài tiến lên, với tổng số tiền đánh bạc là 670.000 đồng. Trước đó, ngày 16/01/2023 bị cáo bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 05/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép.
Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ phạm tội:
Bị cáo Huỳnh Thị O là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì muốn có thu nhập bất chính bị cáo đã trực tiếp thực hiện hành hành vi đánh bạc trái phép, được biểu hiện dưới hình thức đánh bài, được thắng thua bằng tiền với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất an ninh, trật tự xã hội.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự là tình tiết định tội, ngày 16/01/2023 bị cáo bị Công an xã T xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 05/QĐ-XPHC về hành vi đánh bạc trái phép.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo hiện sống tại xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo tự nộp số tiền 10.000.000 đồng bên cơ quan Thi hành án dân sự nhằm đảm bảo thi hành án. Do đó, Hội đồng xét xử xem đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[5] Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Huỳnh Thị O thực hiện hành vi đánh bạc, với số tiền đánh bạc 670.000 đồng, không đủ định lượng để cấu thành tội phạm, tuy nhiên bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nhưng lại tiếp tục đánh bạc nên đã cấu thành tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, bị có có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Đối với hành vi đánh bạc của Võ Thị Hà T2, Lê Thị Vi N, Đỗ Thị Ánh T3 số tiền đánh bạc không đủ định lượng cấu thành tội phạm và cũng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nên không truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở và phù hợp.
Đối với hành vi dùng nhà ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc của Nguyễn Thị S đã bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có cơ sở và phù hợp theo Nghị định số 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[9] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 670.000 đồng là số tiền dùng vào việc đánh bạc; Trả lại số tiền 2.730.000 đồng là số tiền do cơ quan điều tra tạm giữ trên người Huỳnh Thị O, không dùng vào việc đánh bạc; Tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) bộ bài Tây, loại bài 52 lá, trong đó có 02 bộ đã qua sử dụng và 05 bộ chưa qua sử dụng; Trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn T1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76G1-530.37, nhãn hiệu HONDA, số loại C100, số khung: RLHHA08018Y50097, số máy: HA08E1002253, màu nâu, đã qua sử dụng.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị O phạm tội “Đánh bạc”.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị O 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( ngày 28/8/2024).
Giao bị cáo Huỳnh Thị O cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 670.000 đồng (sáu trăm bảy mươi nghìn đồng).
- - Trả lại số tiền 2.730.000 đồng (hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng) cho bị cáo Huỳnh Thị O.
- - Tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) bộ bài Tây, loại bài 52 lá, trong đó có 02 bộ đã qua sử dụng và 05 bộ chưa qua sử dụng.
- - Trả lại cho chủ sở hữu ông Nguyễn T1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 76G1-530.37, nhãn hiệu HONDA, số loại C100, số khung: RLHHA08018Y50097, số máy: HA08E1002253, màu nâu, đã qua sử dụng.
Chi tiết theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T với Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T ngày 06/10/2023 và Uỷ nhiệm chi số 05 ngày 12 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện T và Kho bạc nhà nước huyện T.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Huỳnh Thị O chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo Huỳnh Thị O tự nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo biên lai thu số 0001551 ngày 23 tháng 10 năm 2023, được khấu trừ vào số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, còn lại hoàn trả cho bị cáo 9.800.000 đồng (chín triệu tám trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Minh Thuận |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BÒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BÒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bỊ CÁO o PHẠM TỘI ĐÁNH BẠC
