Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 28/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Gắng – Bà Trần Thị Phương Linh.

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên toà: Ông Phan Đức Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QÐST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Thái Quang H (tên gọi khác: “Tèo Cử”), sinh năm 1973, tại thành phố Q, tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 28/6/2021; Nơi cấp: Cục C về TTXH Bộ C1; Nghề nghiệp: Làm biển; Trình độ học vấn: 02/12; cha mẹ ruột không xác định; Cha nuôi tên Thái Phụng K (chết), mẹ nuôi tên Nguyễn Thị K1, sinh năm 1951; Có vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1983; Con ruột 01 người sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 14/9/2000, bị Ủy ban nhân dân xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
  • Ngày 06/6/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Sông Cầu (nay là thị xã S) xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 31/8/2003).

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Tiến B, sinh năm 1991. Trú tại: Thôn M, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  2. Ngô Tiến V, sinh năm 1984. Trú tại: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Trần Thanh D, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  2. Nguyễn N, sinh năm 1962. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  3. Nguyễn Bá H1, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  4. Nguyễn Bá K2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  5. Nguyễn Thị L, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
  6. Nguyễn Văn T, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn C, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  7. Nguyễn Hữu T1, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 04/8/2023, Thái Quang H sau khi ăn nhậu thì đi về nhà tại thôn A, xã X, thị xã S la chửi chị Nguyễn Thị L (là vợ của H). Lúc này ông Nguyễn NNguyễn Bá H1 (là cha ruột và em ruột của L) ở gần đó đến can ngăn thì H cầm lấy 01 dao bằng kim loại dài 74,5cm rượt đuổi, vung chém trúng vùng ngực bên trái của N gây thương tích trầy xước da thì H1L can ngăn, giằng co với H làm vùng đỉnh đầu của H va chạm vào vách tường gây thương tích rách da chảy máu rồi NH1 lấy dao trên tay H ném ra ngoài và khuyên H đi ngủ. Sau đó H thấy Nguyễn Bá K2 (là em ruột của L) đến thì H tiếp tục vào nhà lấy 02 dao bằng kim loại (01 dao dài 37cm; 01 dao dài 41cm) cầm trên hai tay đứng ở thềm nhà đe dọa những người trong gia đình của L.

Trong lúc xảy ra sự việc gây mất trật tự thì người dân đã báo tin đến Công an xã X thì ông Võ Xuân D1 (là Trưởng Công an xã X) đã phân công Tổ công tác gồm Đại uý Nguyễn Tiến B (là cán bộ Công an xã X), anh Ngô Tiến VNguyễn Văn T (là Công an viên xã X) theo Lịch trực tuần 33 ban hành ngày 31/7/2023 của Công an xã X, phối hợp với anh Trần Thanh DNguyễn Hữu T1 (là dân quân xã X) đến nhà của H để xác minh giải quyết vụ việc. Khi thực hiện nhiệm vụ, những người trong Tổ công tác đều sử dụng trang phục của đơn vị theo đúng quy định. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi Tổ công tác đến nhà của Thái Quang H thì H đang có biểu hiện say xỉn, cầm 02 dao bằng kim loại tiến về phía anh K2 nhưng được chị L can ngăn, B tiến đến gần đứng giữa hai bên (cách H khoảng 1,4m) yêu cầu H bỏ dao xuống thì H ném mạnh 02 dao xuống nền nhà, B ném 02 dao này ra xa vị trí H đang đứng để ngăn chặn việc H sử dụng gây thương tích cho người khác. Anh B

tiếp tục khuyên can, giải thích H giữ bình tĩnh để giải quyết vụ việc nhưng H vẫn hô la to tiếng, thách thức, cản trở Tổ công tác Công an xã X đang thực hiện công vụ. Anh B tiến đến gần, đứng về phía trước bên trái cách H khoảng 0,5m thì H dùng tay trái xô đẩy BH vung tay phải đánh 01 cái theo hướng từ dưới lên, chếch từ phải qua trái trúng vào vùng mặt bên phải (không gây thương tích) và trúng mũ bảo hiểm của anh B đang đội thì B đi vòng qua phía sau dùng hai tay ôm ngang ngực H để giữ H lại thì H vùng vẫy mạnh. Thấy vậy anh V tiến đến phía trước (cách H khoảng 0,6m) để hỗ trợ B thì bị H dùng chân phải đạp mạnh 01 cái trúng vào vùng dưới bụng của anh V nhưng không gây thương tích, làm anh V bị lùi lại phía sau. H tiếp tục vùng vẫy mạnh làm rơi bảng tên đeo ngực của anh B. Khoảng 03 phút sau, Tổ công tác khống chế được H đưa về trụ sở Công an xã X để giải quyết vụ việc. Quá trình điều tra, Thái Quang H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả lại 03 dao bằng kim loại cho chị Nguyễn Thị L.

Phần dân sự: Anh Nguyễn Tiến BNgô Tiến V không bị thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKSSC ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Thái Quang H về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Thái Quang H trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng tội không oan, sai gì cho bị cáo.

Tại phiên toà người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Tiến B và anh Ngô Tiến V thống nhất trình bày: Diễn biến sự việc, hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu. Anh B, anh V không có bị thương tích gì và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khẳng định Cáo trạng số 22/CT-VKSSC ngày 16/4/2024 của VKSND thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Thái Quang H về tội “Chống người thi hành công vụ” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan gì cho bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ và hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Thái Quang H phạm tội “Chống người thi hành công vụ” áp dụng khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Thái Quang H từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả lại 03 dao bằng kim loại cho chị Nguyễn Thị L nên đề nghị HĐXX không xét.

Phần dân sự: Anh Nguyễn Tiến BNgô Tiến V không bị thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên đề nghị HĐXX không xét

Đối với Thái Quang H có hành vi sử dụng dao vung chém trúng vùng ngực trái của ông Nguyễn N gây trầy xước da. Tuy nhiên ông Nguyễn N đã từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu bồi thường. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với Thái Quang H, nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải việc bị cáo đã làm, xin hứa sau này không vi phạm pháp luật và đồng thời xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. Về sự vắng mặt của một số người làm chứng, việc vắng mặt của một số người làm chứng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với người làm chứng vắng mặt tại phiên toà.

  3. Về tội danh: Bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về không gian, thời gian, địa điểm, mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ ngày 04/8/2023, tại thôn A, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, trong lúc anh Nguyễn Tiến B (cán bộ Công an xã X) và anh Ngô Tiến V (Công an viên xã X) đang thực hiện nhiệm vụ của Tổ công tác do Trưởng Công an xã X phân công đến hiện trường giải quyết vụ việc đánh nhau, làm mất an ninh trật tự theo Lịch phân công trực của Công an xã X thì Thái Quang H có hành vi cản trở hoạt động công vụ, dùng tay xô đẩy, vung đánh trúng vào vùng mặt và mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Tiến B và dùng chân đạp trúng vào vùng dưới bụng của anh Ngô Tiến V, sau đó H tiếp tục vùng vẫy khi bị Tổ công tác khống chế, trong thời gian khống chế làm rơi bảng tên đeo ngực của anh B. Nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 BLHS.
  4. Xét về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:

    Bị cáo Thái Quang H là người có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình sao cho phù hợp với quy định của pháp luật. Nhưng khi anh Nguyễn Tiến B (cán bộ Công an xã X) và anh Ngô Tiến V (Công an viên xã X) đang thực hiện nhiệm vụ của Tổ công tác do Trưởng Công an xã X phân công đến hiện trường giải quyết vụ việc đánh nhau, làm mất an ninh trật tự theo Lịch phân công trực của Công an xã X và sự phân công, chỉ đạo trực tiếp của Trưởng Công an xã X, thì bị cáo Thái Quang H có hành vi cản trở hoạt động công vụ, dùng tay xô đẩy, vung đánh trúng vào vùng mặt và mũ bảo hiểm của anh Nguyễn Tiến B và dùng chân đạp trúng vào vùng dưới bụng của anh Ngô Tiến V, sau đó H tiếp tục vùng vẫy khi bị Tổ công tác khống chế, trong thời gian khống chế bị cáo đã làm rơi bảng tên đeo ngực của anh B. Bị cáo Thái Quang H có nhân thân rất xấu, năm 2000 bị Ủy ban nhân dân xã X xử phạt vi phạm hành chính số tiền 100.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng. Năm 2001, bị Tòa án nhân dân huyện Sông Cầu (nay là thị xã S) xử phạt 03 năm tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, điều đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Do đó, cần phải xử phạt mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, nhân thân, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nhất thiết cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội.

  5. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; năm 2007 bị cáo được Chủ tịch UBND huyện S (nay là thị xã S) tặng giấy khen “Tích cực tham gia cấp cứu người trong vụ tai nạn giao thông”. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội.
  6. Do đó Quyết định truy tố tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKSSC ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai gì cho bị cáo nên HĐXX chấp nhận.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Tiến BNgô Tiến V không bị thương tích và không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Nên HĐXX không xét.
  8. Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã trả lại 03 dao bằng kim loại cho chị Nguyễn Thị L nên HĐXX không xét.
  9. Đối với Thái Quang H có hành vi sử dụng dao vung chém trúng vùng ngực trái của ông Nguyễn N gây trầy xước da. Tuy nhiên ông Nguyễn N đã từ chối giám định thương tích, không yêu cầu khởi tố vụ án và không yêu cầu bồi thường. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với Thái Quang H, nên HĐXX không xét.
  10. Về án phí: Bị cáo Thái Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 1 Điều 330, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Bị cáo Thái Quang H phạm tội “Chống người thi hành công vụ”;

    Xử phạt bị cáo Thái Quang H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
  3. Vật chứng vụ án: Không xét.
  4. Về án phí: Bị cáo Thái Quang H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND Tx. Sông Cầu;
  • - CQĐT Công an TX. Sông Cầu;
  • - Cơ quan THAHS TX. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX Sông Cầu;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ Toạ phiên toà

Lò Nhật Chuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thái Quang H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger