Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng mua

bán tài sản và vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Chau Khon Sốc.
  2. Ông Hồ Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Liệu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 28/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1966; địa chỉ: Tổ C, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đặng Thị L: Bà Phùng Thị L1, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang ( Theo văn bản ủy quyền ngày 05/10/2023; số chứng thực: 66, Quyển số 01/2022+2023 – SCT/CK,ĐC), có mặt.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1979, có đơn đề nghị xét xử văng mặt.

2.2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1978, văng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ E, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà bà Phùng Thị L1 đại diện nguyên đơn trình bày:

Trước đây bà L có giao dịch mua bán vật tư xây dựng cho ông T vì ông T với tư cách là thầu các công trình xây dựng nhà ở địa phương. Do đó, bà L có giao vật tư cho ông T và ghi sổ nợ dần. Tuy nhiên, sau này ông T lãnh mão công trình và mua bán vật tư rất nhiều lần nhưng không thanh toán cụ thể như sau: Ngày 20/4/2020, ông T làm nhà cho dì Bảy Bùi ở chợ B1, nợ lại bà L số tiền 33.949.000 đồng; ngày 25/05/2020, ông T làm nhà cho thầy Ú ở chợ B1 còn nợ 3.370.000 đồng; ngày 16/6/2020, ông T làm nhà cho ông T1, còn nợ 31.041.000 đồng; ngày 30/6/2020, ông T làm nhà cho ông S bán rau cải còn nợ 2.607.000 đồng; ngày 02/8/2020, ông T làm nhà cho ông D – chị K1 còn nợ 12.192.000 đồng; ngày 13/9/2020, ông T làm nhà cho ông Đ, xóm B ở chợ B1 còn nợ 5.644.000 đồng; ngày 15/9/2020, ông T nhận làm cho nhà ông T2 (Công an) còn nợ 43.624.000 đồng; ngày 28/10/2020, ông T làm nhà cho ông H gần C, Ba C còn nợ 15.760.000 đồng; ngày 26/12/2020, bà L sang toa và thống kê các loại tiền mua riêng lẻ vật tư ông T còn nợ cũ số tiền 36.020.000 đồng; ngày 14/12/2020, ông T làm nhà cho ông L2 (ở đầu Ô), còn nợ 2.790.000 đồng; ngày 29/12/2020, ông T kêu thanh niên tên K2 mua lưới, nợ bà L 1.216.000 đồng; ngày 28/04/2021 ông T nhờ vợ là bà Nguyễn Thị K đến mượn bà L số tiền lần thứ nhất là 20.000.000 đồng, lần 2 10.000.000 và lần ba 20.000.000 đồng (các lần mượn đều có làm giấy xác nhận nợ). Đến thời điểm này tổng số tiền mà ông T và bà K còn nợ bà L là 238.186.000 đồng và từ đó đến nay bà L đã nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông T, bà K thanh toán hết số nợ trên nhưng ông T3, bà K cứ lần lượt hẹn trả cuối cùng đến nay vẫn chưa trả cho bà L. Nay bà L yêu cầu ông T, bà K liên đới phải thanh toán số tiền nợ trên 238.186.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản công khai chứng cứ, hoà giải trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Nhật T trình bày: Ông T thừa nhận hiện nay vợ chồng ông còn nợ tiền mua vật tư xây dựng và tiền vay của bà L như bà Phùng Thị L1 đại diện bà L trình bày tổng số tiền 238.186.000 đông, ông T xác định số nợ trên đều là nợ chung của vợ chồng. Nay bà L yêu cầu vợ chồng ông thanh toán hết số nợ trên một lần vợ, chồng ông không có khả năng. Bởi vì, hoàn cảnh gia đình vợ chồng ông hiện nay đặc biệt khó khăn nên ông xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi hết nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị K: Vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho đương sự, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đảm bảo so với quy định.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định: Áp dụng Điều 430, Điều 440, Điều 463, Điều 446, Bộ luật dân sự và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị L buộc ông T, bà K trả tiền nợ mua bán vật tư xây dựng số tiền 188.186.000 đông và tiên nợ vay 50.000.000 đồng

Về án phí: Ông T, bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà L khởi kiện ông T, bà K yêu cầu trả số tiền còn nợ mua vật tư xây dựng và tiền vay. Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại huyện T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng của đương sự: Bị đơn ông T có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, bị đơn bà K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét về nội dụng:

[2.1] Đối với tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản: Bà L khởi kiện yêu cầu ông T, bà K3 trả tiền còn nợ mua vật liệu xây dựng tổng cộng 188.186.000 đồng. Nhận thấy, về các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm 09 tờ ghi nhận Trường nợ tiền mua vật tư khi làm nhà cho khách hàng nhưng chỉ có biên nhận thứ 9 ghi “làm nhà cho anh T2” là có chữ ký tên và họ tên của Nguyễn Nhật T, còn lại không có chữ ký tên và họ tên của ông T. Tuy nhiên, quá trình giải quyết ông T thừa nhận có nợ tiền mua vật tư xây dựng của bà L nhiều lần tổng cộng 188.186.000 đồng và đồng thời ông T thừa vợ ông bà K hiện nay còn nợ bà L 50.000.000 đồng. Do đó, từ những cơ sở trên cho thấy có cơ sở xác định thực tế giữa bà L và ông T có giao kết hợp đồng mua bán vật tư xây dựng, ông T vi phạm nghĩa vụ trả tiền mua vật tư xây dựng nên bà L khởi yêu cầu ông T, trả tiền 188.186.000 đồng, N rà, bà L yêu cầu bà K liên đới cùng ông T trả tiền mà ông T mua vật tư xây dựng của bà L. Hội đồng xét xử xét thấy, nguồn tiền có được sau khi ông T hoàn thành xong việc xây dựng nhà cho khách hàng, ông T sử dụng vào mục đích phục vụ chung cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình. Từ đó, bà L yêu cầu bà K liên đới cùng ông T trả nợ mua vật tư xây dựng cho bà L là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.2] Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản: Bà L khởi kiện yêu cầu ông T, bà K trả tiền nợ vay 50.000.000 đồng. Xét thấy, theo chứng cứ bà L cung cấp là 02 giấy ghi phiếu mua hàng, người giao CH.VLXD Đặng Lệ thể hiện nội dung “vào ngày 28/4 dương lịch Kiển mượn bảy 20.000.000 và ngày 02/5 mượn thêm 10.000.000 đồng. Ngày 3/4 âm lịch nhằm ngày 14/5/2021, K mượn thêm 20.000.000 cộng là 50.000.000 đồng khi vay tiền xong trả bảy, ký tên Kiển ghi họ tên Nguyễn Thị K” và xét thấy, bà L còn có tên gọi khác là B và là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, sự thừa nhận của ông T thể hiện tại bản tự khai, biên bản công khai chứng cứ, hoà giải ngày 22/3/2024, ông T đồng ý cùng K trả nợ vay theo yêu cầu của L. Bà K, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà K, trong đó có nêu rõ nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn cùng chứng cứ kèm nhưng bà K không có ý kiến phản đối hay có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của bà L. Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy, có cơ sở xác định bà K thực tế có vay tiền của bà L nên giữa bà L và bà K có phát sinh tranh chấp hợp đồng vay tiền. Bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nên bà L khởi kiện yêu cầu ông T, bà K liên đới cùng trả nợ vay 50.000.000 đồng là có cơ sở nên chấp nhận.

[3] Về việc tính lãi: Bà L không yêu cầu ông T và bà K trả lãi chậm trả nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu ông T và bà K chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[4] Xét về yêu cầu của ông T xin trả dần số tiền còn nợ bà L 238.186.000 đồng, mỗi tháng trả 2.000.000 đồng cho đến hết nợ do đại diện nguyên đơn không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bà L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho bà L tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông T, bà K vi phạm nghĩa vụ trả nợ và yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông T, bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 430, Điều 440, Điều 463, Điều 466, Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị L.

Buộc ông Nguyễn Nhật T, bà Nguyễn Thị K có trách nhiệm liên đới trả cho bà Đặng Thị L số tiền tổng số tiền 238.186.000 đồng.

Kể từ ngày bà L có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu ông T, bà L chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Trả lại cho bà Đặng Thị L số tiền 5.955.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010259 ngày 09 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Nhật T, bà Nguyễn Thị K phải chịu 11.909.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND huyện Tri Tôn;

- CCTHADS huyện Tri Tôn;

- Lưu hồ sơ vụ án, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Chau Dau

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản và vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger