TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HS-ST Ngày 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Đông
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hồng Thái
Ông Niê Y Ling
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mạy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gia xét xử số 02/2024/TB-TA ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn N; sinh ngày 01/01/1983 tại Phú Yên; CCCD số: [...]; nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N1 (không xác định được năm sinh - chết) và bà Nguyễn Thị M (không xác định được năm sinh - chết); Vợ: Đinh Thị N2, sinh năm 1991; con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án: Ngày 14/4/2021 bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/07/2023; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 18/10/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện S. Bị cáo bị dẫn giải có mặt.
Bị hại: Anh Ksor Y K, sinh năm 1993; địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Hồ Sỹ L, sinh năm 1985; địa chỉ: Buôn D, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
2. Bà Lê Thị N3, sinh năm 1990; địa chỉ: Buôn D, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
3. Bà Lê Hoài T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn P, xã H (nay là khu phố P, thị trấn P), huyện T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Trần Minh V, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
2. Chị Lê Thị Thái C, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn P, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
3. Anh Đỗ Xuân Q, sinh năm 1986; địa chỉ: Buôn D, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
4. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 19/9/2023, Lê Văn N, Nguyễn Ngọc H, Trần Minh V, Ksor Y cùng nhau ăn nhậu tại quán R ở thôn P, xã S, huyện S. Sau khi ăn uống xong, tất cả rủ nhau đi đánh bị da độ ai thua sẽ trả hết tiền cho quán. Trong quá trình đánh bị da, N và K xảy ra mâu thuẫn nên nghỉ chơi, tính tiền xong tất cả ra về. H điều khiển xe một mình đi trước, V điều khiển xe máy chở N và K đi sau. Khi đến khu vực đường bê tông thuộc thôn T, xã S, huyện S gần quán R, V dừng xe lại, N và K xuống xe, lúc này N ôm K lại, H dùng đèn pin đánh vào đầu K gây thương tích, Vương can n đẩy K ra, H tiếp tục dùng đèn pin ném vào Khoa nhưng không trúng, N bảo K lên xe để chở đi trạm xá. K lên xe Nhẹ chở đi, H đi theo sau N, V đi về nhà. Nhẹ chở K đi đến quốc lộ B thuộc thôn N, xã S, N dừng xe và ôm K lại, H đến dùng tay đánh 02 cái vào mặt và người K, K lấy điện thoại di động ra để gọi cho người thân thì H giật lấy điện thoại, đồng thời lục soát trên người K và móc trong túi quần K lấy 500.000 đồng, H yêu cầu K dùng điện thoại để chuyển tiền qua tài khoản cho H nhưng K nói không có tài khoản, lợi dụng lúc H và N sơ hở, K đạp xe của N ngã xuống đất rồi chạy thoát, sau đó K báo cáo sự việc cho cơ quan chức năng giải quyết.
Kết luận giám định tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện S kết luận: 01 cái điện thoại hiệu OPPO A3s, bộ nhớ 16 GB trị giá 600.000 đồng;
Kết luận giám định số 410/KL-HĐGĐTX ngày 30/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: K3 bị tác động bởi vật có cạnh gây nên tổn thương xương sọ và hệ thần kinh 03%, đánh giá cho phần ảnh hưởng đến não bộ do chấn thương phần đầu; tổn thương phần mềm sẹo kích thước (0,3 x 0,2) mm đỉnh đầu trái 0,1%. Tổng thương tích là 0,4%. Y Khoa không yêu cầu khởi tố vụ án đối với H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Ngọc H.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại anh K1 Y Khoa trình bày: Điện thoại OPPO A3s của anh Công an huyện S thu hồi và đã giao trả tài sản, khi anh biết tin bị cáo H đã chết, anh tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền đã lấy của anh, đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Sỹ L trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu SIHAMOTO, biển kiểm soát 78N1-3874, sơn màu xanh - xám do ông mua của bà Lê Hoài T trú tại Thôn P, xã H (nay là khu phố P, thị trấn P), huyện T, tỉnh Phú Yên, có viết giấy tay và ông chưa sang tên. Do H làm công cho ông nên khi H hỏi mượn xe thì ông cho mượn, ông không biết việc H dùng xe của ông để cướp tài sản của K, ông xin được nhận lại xe để sử dụng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N3 trình bày: Bà được chồng là ông Đỗ Xuân Q nhờ đưa giùm chiếc điện thoại cho Ksor Y K, bà không biết điện thoại đó là do H và N cướp của K.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Hoài T hiện không có mặt tại địa phương nên không có lời khai.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về kết luận định giá tài sản.
Vật chứng thu giữ: 01 cái điện thoại hiệu OPPO A3s, bộ nhớ 16 GB; 01 xe mô tô hiệu SIHAMOTO, biển kiểm soát 78N1-3874, sơn màu xanh - xám.
Bản cáo trạng số 16/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Cướp cắp tài sản” theo điểm h khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự (BLHS), bị can Nguyễn Ngọc H về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 (BLHS).
Ngày 21/6/2024, bị can H chết, ngày 25/6/2024, Toà án đã ra Quyết đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Ngọc H.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Cướp tài sản”; áp dụng điểm h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo xử phạt: Lê Văn N từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/10/2023. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị xét không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS, đề nghị tuyên trả xe mô tô hiệu SIHAMOTO, biển kiểm soát 78N1-3874, sơn màu xanh – xám cho ông Hồ Sỹ L.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về quyết định truy tố, quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện S; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Ngày 19/9/2023, Lê Văn N, Nguyễn Ngọc H đã có hành vi dùng vũ lực tấn công anh K2 Y K để lấy tiền và điện thoại của anh Y K tổng trị giá 1.100.000₫ nên bị cáo N đã phạm tội Cướp tài sản. Bị cáo N đã bị Toà án nhân dân tỉnh Phú Yên xử phạt 05 năm tù về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/07/2023, chưa được xoá án tích lại phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS, do đó cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Hinh truy tố bị cáo N về tội Cướp tài sản quy định tại điểm h khoản 2 Điều 168 BLHS là có cơ sở.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy xem xét cho bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS khi lượng hình.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại chiếc điện thoại, tự nguyện không yêu cầu N và H bồi thường số tiền đã lấy, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong vụ án còn có đồng phạm khác là Nguyễn Ngọc H, tuy nhiên ngày 21/6/2024 H đã chết, ngày 25/6/2024 Toà án nhân dân huyện Sông Hinh đã ra Quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can Nguyễn Ngọc H nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Bà Lê Thị N3 chỉ là người được nhờ trả lại chiếc điện thoại cho anh Y K, không biết việc N và Hoá cướp của Y K nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xem xét trách nhiệm của bà N3 là đúng pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng: Chiếc điện thoại Hoá lấy của anh Y K đã được trả lại cho anh Y K là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về xe mô
tô hiệu SIHAMOTO, biển kiểm soát 78N1-3874, sơn màu xanh - xám, ông L không biết H dùng đi cướp tài sản, bà T vắng mặt không có lời khai nên căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS tuyên trả lại cho ông Hồ Sỹ L như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Nếu bà T phát sinh tranh chấp sẽ được xử lý bằng vụ việc khác theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo:
Tuyên phạt: Bị cáo Lê Văn N 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/10/2023.
* Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS trả ông Hồ Sỹ L xe mô tô hiệu SIHAMOTO, biển kiểm soát 78N1-3874, sơn màu xanh - xám theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh.
* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Văn N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN |
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Đông |
Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN về cướp tài sản
- Số bản án: 22/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG HINH, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N bị truy tố về tội Cướp tài sản
