|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25 - 6 - 2024 “V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2023/TLST-HNGĐ ngày 02/01/2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/5/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1976;
Nơi thường trú: khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh – Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976;
Nơi thường trú: khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y (nay là phường P, thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh vào ngày 18/11/1999. Những năm đầu chung sống hạnh phúc, nhưng theo thời gian phát sinh mâu thuẫn ngày càng phức tạp, khác nhau về quan điểm sống cũng như tình cảm không hòa hợp giữa hai vợ chồng, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, không còn yêu thương nhau nữa. Trong cuộc sống anh H không quan tâm gì đến gia đình. Chị T và anh H đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Vì vậy, chị Nguyễn Thị T làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung là : Nguyễn Thu T1, sinh ngày 09/9/2000 và Nguyễn Đức H1, sinh ngày 04/12/2002. Các con chung đã trưởng thành, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Nguyễn Văn H (anh H đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng và ký nhận) nhưng anh Nguyễn Văn H không có mặt tại các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do, không có ý kiến trình bày quan điểm về việc chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con chung.
Tại Biên bản xác minh ngày 07/3/2024, đại diện chính quyền khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cung cấp: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H kết hôn ngày 18/11/1991 đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn cả 2 chung sống tại khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống cả 2 không yêu cầu khu hòa giải mâu thuẫn, chỉ được biết cả 2 không hợp nhau, nay đã sống ly thân. Nay chị T yêu cầu giải quyết ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có 02 con chung: Nguyễn Thu T1, sinh ngày 09/9/2000; Nguyễn Đức H1, sinh ngày 04/12/2002. Hai con chung đã thành niên.
Về tài sản chung khu không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
I. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG.
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự; trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đảm bảo đúng theo quy định tại Điều 195, 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, mở phiên tòa đảm bảo theo quy định tại các Điều 203, 204, 205, 206, 207, 208 và Điều 209 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa:
Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm giải quyết vụ án.
3. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đã cơ bản chấp hành, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt). Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, bản tự khai của các đương sự và kết quả Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ.
Căn cứ khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 56; Điều 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T. Xử chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Hai con chung là Nguyễn Thu T1, sinh ngày 09/9/2000 và Nguyễn Đức H1, sinh ngày 04/12/2002 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về tài sản và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị T phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện về việc ly hôn với anh Nguyễn Văn H và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại khu A, phường P, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt); bị đơn anh Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn từ năm 1999 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; anh Nguyễn Văn H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có quan điểm về vấn đề
yêu cầu ly hôn và nuôi con chung. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Nguyễn Văn H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Hai con chung là Nguyễn Thu T1, sinh ngày 09/9/2000 và Nguyễn Đức H1, sinh ngày 04/12/2002, cả hai con chung đều đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất tâm thần, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Nguyễn Thị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003806 ngày 02/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Phúc Định |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thúy được ly hôn anh Nguyễn Văn Hùng
