|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/DS - PT Ngày 25 tháng 4 năm 2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Vũ
- Các Thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường
- Ông Nguyễn Hán Hưởng
- - Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 4 năm 2024 (tuyên án ngày 25 tháng 4 năm 2024), tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2023/TLPT - DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 65/2023/QĐPT - DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 285/2024/TB-TA ngày 04 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1958 và bà Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1962; Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Ông H là chồng bà L và ủy quyền cho bà L tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 25/02/2021 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1976; Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phố Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Gia L1, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số nhà A, tổ F, phố H, khu T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Hoa M, sinh năm 1978.
ĐKHKTT: Tổ 17, phố Đ, P. T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Gia L1, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Số nhà A, tổ F, phố H, khu T, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
- Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1966 (đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khi Đ, P. T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1961 (đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ C, phố T, phường T, V, Phú Thọ
- Ông Nguyễn Tiến K, sinh năm 1953 (đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, V, Phú Thọ
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949 (đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, V, Phú Thọ
- Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1943 (đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- UBND thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc L2 - Phó trưởng phòng T7 (đề nghị xét xử vắng mặt).
- UBND phường T. thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Minh G - Công chức địa chính (đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Hoa M, sinh năm 1978.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn trình bày:
Gia đình bà L, ông H được quyền quản lý và sử dụng thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47, diện tích 547,4m². Mục đích sử dụng: Đất ở; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng đất là của ông cha để lại tại địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hằng năm gia đình ông bà vẫn thực hiện nghĩa vụ đóng thuế đầy đủ, cạnh thửa đất của ông bà là đất của ông Nguyễn Văn S, vợ là Nguyễn Thị M1 đã được Ủy ban nhân dân thành phố V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/8/2007. Năm 2016 ông S, bà M1 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất đó cho ba anh em ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Xuân T2 và ông Nguyễn Trung T. Thửa đất đó đã bị Nhà nước thu hồi 161,7m² để gia cố đê và đường gom dân sinh. Nhưng khi các ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Xuân T2, ông Nguyễn Trung T tách thửa đất để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vợ chồng ông bà không được biết nên xảy ra việc chồng lấn diện tích đất giữa các hộ và hộ gia đình ông bà vì địa chính phường T và Tài nguyên môi trường Ủy ban nhân dân thành phố V đã cố tình làm sai cụ thể.
Chiều rộng của mỗi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tổng chiều dài của thửa đất gia đình ông S đã bán cho 03 anh em, chiều dài gốc 39,02m. Ngày 08/10/2012 đã bị Nhà nước thu hồi 161,7m² gia cố làm đường gom dân sinh. Hiện tại 03 anh em để đường chung rộng 05m, dài 43,08m sang đất nhà ông bà.
Biên bản làm việc của Phòng Tài nguyên môi trường thành phố V ngày 13/7/2020, diện tích 94,4m² nằm trong ô đất của ông Nguyễn Thành N để ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói là hành lang đê cùng với 18,7m² (đường đi chung). Thực tế ông Nguyễn Thành N đã sử dụng 113,1m² đất này vẫn nằm trong diện tích Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông S bán cho ba anh em, ông N cố tình để ra ngoài chiếm riêng phần cá nhân ông N. Thực tế đẩy diện tích phần đất của ông Nguyễn Xuân T2, phần đất của ông Nguyễn Trung T đã lấn sang đất của gia đình ông bà, tổng diện tích mất 64m² đẩy đất nhà ông bà xuống hành lang mương thoát nước của thành phố V. Gia đình bà đã nhiều lần đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhưng vụ việc không được giải quyết dứt điểm.
Bà đề nghị Tòa án buộc gia đình ông Nguyễn Trung T phải trả lại diện tích đất cho gia đình bà là 64m² mà gia đình ông T đã lấn chiếm.
Bị đơn ông Nguyễn Trung T do ông Tạ Gia L1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Tháng 12/2015, gia đình các ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Xuân T2, ông Nguyễn Trung T nhận chuyển nhượng chung thửa đất của ông Nguyễn Kim T3 (tên khác là S) tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 8, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Khi bàn giao đất từ ông Nguyễn Kim T3 có mặt ông Nguyễn Ngọc H cùng sự chứng kiến và tham gia đóng cọc, căng dây xác định mốc giới của các ông Nguyễn Kim T3, Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Thành Đ, Nguyễn Minh K2 đểu có hộ khẩu thường trú tại tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Sau khi bàn giao mốc giới, ông Nguyễn Ngọc H và các ông Nguyễn Thành N, ông Nguyễn Xuân T2, ông Nguyễn Trung T thống nhất điều chỉnh mốc giới của hai thửa đất để cho tương đối vuông trước sự chứng kiến của ông T3, ông T1, ông Đ1, ông K2 kéo dây đóng cọc (có xác nhận ngày 29/11/2020).
Tháng 3/2016 các ông N, T2, T tiến hành xây tường 110mm là chỉ giới của 02 thửa đất, đồng thời ông Nguyễn Ngọc H nhờ xây tường bao cuối thửa đất của ông H. Hai bên thống nhất đổ đường bê tông rộng 5m và hệ thống nước thải cuối các thửa đất kéo dài từ đường bê tông đi qua đất nhà ông N, T2, T, H đến mương thủy lợi làm lối đi và hệ thống thoát nước thải dùng chung.
Tháng 5/2016 gia đình các ông Nguyễn Thành N, Nguyễn Trung T4, Nguyễn Trung T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình ông Nguyễn Trung T, bà Nguyễn Thị Hoa M được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 229,8m² (trong đó đất ở 75m², đất vườn 154,8m²).
Tháng 8/2017 gia đình 03 ông N, T4, T tiến hành đổ bê tông đường 5m như đã thống nhất. Tuy nhiên bà Huỳnh Ngọc L vợ ông Nguyễn Ngọc H không nhất trí đổ đường bê tông qua đất ông H, bà L nên hiện tại đường bê tông dừng lại hết đất nhà ông Nguyễn Trung T tiếp giáp đất ông L, bà H.
Tháng 4/2019 ông Nguyễn Trung T xây dựng nhà ở. Bà Huỳnh Ngọc L có đơn gửi UBND phường T kiến nghị về việc chồng lấn diện tích của hai thửa đất. Ngày 14/4/2019 tại nhà ông Nguyễn Tiến K - trưởng khu Đ có các ông Nguyễn Ngọc H, anh Nguyễn Trường T5 con trai ông H cùng ông Nguyễn Trọng T1, Nguyễn Thành Đ2, Nguyễn Trung T làm việc thống nhất nội dung theo biên bản ngày 14/4/2019 như sau: Không tranh chấp về diện tích đất sử dụng của nhau, mốc giới đất nhà ông T và ông H là bờ tường xây 110 hiện có, nên ông T tiếp tục hoàn thiện việc xây nhà.
Đường bê tông 05m trước mặt các hộ gia đình ông N, ông T4, ông T dài khoảng 40m và kéo dài thẳng hết phần đất của ông H có mốc giới là mương thủy lợi, đường nước thải hiện có được xác định là lối đi chung, công trình sử dụng chung của các hộ ông N, ông T4, ông T và ông H.
Từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 10 năm 2020 bà Huỳnh Ngọc L lại không nhất trí với các thỏa thuận trước đó nên tiếp tục có đơn gửi các cơ quan chức năng: Ủy ban nhân dân phường T, Ủy ban nhân dân thành phố V. Các cơ quan tiến hành hòa giải, quan điểm của hai hộ ông T và ông H, bà L như sau: Hai hộ nhất trí thuê đơn vị có thẩm quyền đo đạc xác định diện tích chồng lấn để thỏa thuận. Kết quả đo đạc tại thực địa, ông Nguyễn Thành N được sự ủy quyền của ông Nguyễn Trung T nhất trí nhưng bà L không nhất trí, không ký biên bản ngày 17/3/2020.
Ủy ban nhân dân phường T, UBND thành phố V sau nhiều lần làm việc đã có văn bản trả lời: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Trung T là đúng, diện tích đất của ông T chồng lấn vào ranh giới nhà ông H 11,9m² và 11m² là đường bê tông đã đổ. Diện tích đất của nhà ông Nguyễn Ngọc H chồng lấn sang đất nhà ông Nguyễn Trung T là 6,5m². (Biên bản làm việc ngày 13/7/2020 của phòng tài nguyên môi trường thành phố V và bà L kèm theo biên bản trích đo hiện trạng sử dụng đất).
Căn cứ hiện trạng sử dụng đất theo kết quả đo vẽ nêu trên, nếu đối trừ 11,9m² đất của ông H do ông T đã xây dựng nhà với phần đất 6,5m² đất của gia đình ông T đang chồng lấn sang đất của ông H thì chênh lệch là 5,4m² + 11m² đất đã đổ đường bê tông = 16,4m².
Nay ông H, bà L khởi kiện ông T, ông đề nghị như sau: Việc điều chỉnh mốc giới giữa hai thửa đất nêu trên là có sự thống nhất của ông H, ông Thực tại thực địa, có sự chứng kiến của nhiều người, gia đình ông T không tự ý xây dựng nhà ở chồng lấn sang phần đất của gia đình ông H. Đề nghị Tòa án giải quyết phần diện tích đất ông T xây nhà, làm đường bê tông 16,4m² chồng lấn vào phần đất của gia đình ông Nguyễn Ngọc H, gia đình ông T thanh toán bằng tiền theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hoa Mdo ông Tạ Gia L1 là người đại diện theo ủy quyền: Đồng quan điểm với lời trình bày của bị đơn.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ông Nguyễn Trọng T1 trình bày: Thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47 có diện tích 547,4m² (trong đó có 300m² đất ở còn lại là đất vườn) ở địa chỉ tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là của ông có nguồn gốc do ông cha để lại. Thửa đất này hiện tại ông không chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp cho ai cả. Ông cũng không kiện ai và không có ai kiện ông. Nay Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ giải quyết vụ án thụ lý số 09/2022/TLST-DS ngày 17/01/2022 giữa nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H, bà Huỳnh Ngọc L với bị đơn ông Nguyễn Trung T ông không có quan điểm gì vì các bên kiện cáo không có liên quan gì đến ông. Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đưa ông vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và báo gọi ông đến làm việc ông trình bày không liên quan đến vụ án này nên đề nghị Tòa án không báo gọi ông nữa, ngoài ra ông không khai báo gì thêm.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/3/2022 bà Huỳnh Ngọc L đề nghị Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản và bà đề nghị Tòa án mời Công ty TNHH K3 tiến hành đo đạc đối với thửa đất tranh chấp.
Ngày 15/4/2022 Tòa án đã tiến hành đo đạc, thẩm định và thành lập Hội đồng định giá đối với tài sản đang tranh chấp.
Ngày 18/8/2022 bà L nộp đơn đề nghị Tòa án tiến hành thẩm định, định giá lại tài sản với lý do bà không đồng ý với kết quả đo đạc ngày 15/4/2022. Bà đề nghị được tiến hành đo đạc lại và định giá lại tài sản và đề nghị Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện việc đo đạc.
Ngày 09/12/2022, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá lại tài sản tranh chấp.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng các bên không thống nhất được với nhau về nội dung giải quyết vụ án, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H và Huỳnh Ngọc L chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì vậy ngày 15/6/2023 Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để xác định về nguồn gốc thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47, diện tích 547,4m² tại địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và được Ủy ban nhân dân phường T cung cấp như sau: Sổ mục kê của Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V thể hiện: Tại trang 119, tờ bản đồ số 47, thửa đất số 11, tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Trọng T1, diện tích 547,4m² (trong đó có 300m² đất ở, 247,4m² đất vườn).
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39, điểm a khoản 1 Điều 92, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26 Nghị quyết 326/QH14/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L đối với ông Nguyễn Trung T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L phải chịu 11.871.000 (Mười một triệu, tám trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản. Xác nhận bà Huỳnh Ngọc L đã nộp đủ số tiền 11.871.000 (Mười một triệu, tám trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) chi phí tố tụng.
- Về án phí:
- - Ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Ngọc L được trả lại 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0009114 ngày 14/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Kháng cáo: Ngày 23/8/2023, nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L kháng cáo không đồng ý với nội dung của toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ .
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đơn kháng cáo của đương sự đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, các bên đương sự đều thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 18/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L không phải chịu do là người cao tuổi theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm Sát tỉnh P; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tòa án giải quyết vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt theo khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự
- Xét nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Trung T phải trả lại diện tích 64m² đất mà gia đình ông T đã lấn chiếm đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47, diện tích 547,4m² tại địa chỉ: Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Cấp sơ thẩm cho rằng ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L không phải là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47. Do vậy, toàn bộ yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
Tại cấp phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành bổ sung tài liệu chứng cứ cũng như tiến hành các biện pháp tố tụng khác. Thấy rằng:
Cụ Nguyễn Ngọc B1 (sinh 1915, mất năm 2009) và cụ Nguyễn Thị D (sinh năm 1920, mất năm 2011); Những người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ là: Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1943; Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1949; Ông Nguyễn Tiến K, sinh năm 1953; Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1958; Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1961; Ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1966. Khi còn sống hai cụ quản lý thửa đất trên. Hai cụ chết không để lại di chúc gì về thửa đất này.
Lời khai của người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ khai như sau:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/7/2023, ông Nguyễn Trọng T1 trình bày: Thửa đất này là của ông nguồn gốc do ông cha để lại, hiện tại ông không kiện ai và cũng không ai kiện ông, ông cũng không chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố hay thế chấp thửa đất này. Ông T1 xác định là đất của ông H do ông đứng tên thay.
Ông Nguyễn Tuấn A trình bày: Nguồn gốc đất là của bố mẹ, khi các cụ còn sống có nghe nói là cho ông H nhưng không có giấy tờ gì. Bố mẹ chết không để lại di chúc đối với thửa đất đó. Ông H muốn chứng minh quyền sử dụng thì phải được sự đồng ý của 6 anh em (BL406).
Ông Nguyễn Tiến K trình bày: Ông H đi bộ đội gửi về 2 chỉ vàng, mẹ ông mua đất và bảo là của ông H (BL398).
Bà Nguyễn Thị B trình bày: Nguồn gốc đất là của bố mẹ cho ông H, chỉ nói bằng miệng (BL395).
Bà Nguyễn Thị K1 trình bày: Đất là của bố mẹ bà cho cả ông H và bà L nhưng chỉ nói bằng miệng (tại biên bản lấy lời khai).
Giả thiết thửa đất trên là di sản thừa kế thì các đồng thừa kế cũng không ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L khởi kiện.
Căn cứ vào các tài liệu nguyên đơn cung cấp thì ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L chưa được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Ông H, bà L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sử dụng và định đoạt đối với thửa đất này.
Căn cứ vào Sổ mục kê được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ tại trang 119 thể hiện diện tích 547,4m² (trong đó có 300m² đất ở, 247,4m² đất vườn), tờ bản đồ số 47, thửa đất số 11 tên chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Trọng T1 và không có tài liệu nào thể hiện tên chủ sử dụng là của ông Nguyễn Ngọc H, bà Huỳnh Ngọc L.
Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà K1, bà B, ông K, ông T6 (và UBND hai cấp) tham gia tố tụng là có thiếu sót. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm các ông bà có tên trên nhất trí tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm, đã có lời khai và không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên xác định ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L không phải là chủ sử dụng hợp pháp đối với thửa đất số 11, tờ bản đồ số 47, diện tích 547,4m² (trong đó có 300m² đất ở, 247,4m² đất vườn) tại Tổ A, khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do đó ông H, bà L không có quyền khởi kiện hoặc chưa đủ cơ sở chứng minh là người có quyền khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Trung T phải trả lại diện tích 64m² đất.
Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L là đúng. Cấp phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L.
- [3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
- [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông H và bà L là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L.
Giữ nguyên Bản án dân sự số 18/2023/DS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- [1] Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 186; Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L đối với ông Nguyễn Trung T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
- [2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc H và bà Huỳnh Ngọc L không phải chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Vũ |
Bản án số 22/2024/DS - PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 22/2024/DS - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
