Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 6 - 2024

"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Oanh

Ông Nguyễn Hồng Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân

huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 82/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19a/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị T, sinh năm 1991; nơi cư trú: Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Phan Minh H, sinh năm 1986; nơi cư trú: tổ A, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang. (có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Hà Thị T1, bà Nguyễn Thị Vân A và bà Đỗ Thị P – đều là Luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Tư vấn và Đầu tư Việt Thông - Đoàn Luật sự Thành phố H, địa chỉ: P, tầng D, tòa Hud3 Tower, 1 T, P. N, quận H, Thành phố Hà Nội. (bà Đỗ Thị P và bà Nguyễn Thị Vân A có mặt, bà Hà Thị T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Mai Thị T trình bày: Chị và anh Phan Minh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn lần đầu tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện B vào năm 2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại tổ A, thị trấn V, huyện B một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn và đã quyết định thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang vào năm 2019. Sau đó một thời gian anh chị hàn gắn và tự nguyện đăng ký kết hôn lại vào năm 2020 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Vợ chồng anh chị sinh sống tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định cho đến tháng 6 năm 2021, anh H bị xét xử về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và được hưởng án treo, anh H chuyển về sinh sống tại tổ A, thị trấn V, huyện B, còn hai mẹ con chị T vẫn sinh sống tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định cho đến tháng 5 năm 2023, hai mẹ con chị mới chuyển lên sinh sống tại thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang với anh H. Tuy nhiên trong quá trình chung sống giữa anh chị xảy ra rất nhiều mâu thuẫn về mặt tình cảm và vật chất, thường xuyên xảy ra xô sát, miệt thị xúc phạm nhau. Hiện vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người một quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có sự động viên, chia sẻ, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên can thiệp hòa giải nhưng không có kết quả, ngày càng trầm trọng không khắc phục được. Hiện nay chị T thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, có níu kéo cũng không hạnh phúc, vì vậy chị đề nghị Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phan Minh H. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi con cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, vì cháu là con gái, còn nhỏ, chủ yếu chị là người trực tiếp nuôi con từ trước tới nay, bản thân chị vẫn có thu nhập ổn định đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Phan Minh H trình bày: anh và chị Mai Thị T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn lần đầu tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện B vào năm 2018. Sau đó vợ chồng chung sống tại tổ A, thị trấn V, huyện B một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn và đã quyết định thuận tình ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang vào năm 2019. Đến năm 2020 anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Từ năm 2020 cho đến khoảng tháng 4 năm 2021 vợ chồng anh chị sinh sống tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định và chị T đã sinh con vào tháng 11/2020. Do không may anh phạm tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định kết án, cho hưởng án treo vào tháng 6/2021. Sau đó anh về sinh sống tại tổ A, thị trấn V, huyện B còn hai mẹ con chị T vẫn sinh sống tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định cho đến tháng 5/2023 chị T và con mới chuyển đến tổ A, thị trấn V để sinh sống cùng anh H. Tuy nhiên do tính tình anh chị không hòa hợp, chị T sống ích kỷ, không hòa đồng được với mẹ chồng nên vợ chồng lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc và đến tháng 10 năm 2023 chị T đã

nói với anh H về quê ngoại chăm ông ngoại, anh H đồng ý cho chị T về quê, cháu M vẫn ở lại thị trấn V. Đến ngày 20 tháng 11 năm 2023 chị T lên tổ chức sinh nhật cho cháu M, sáng sớm hôm sau chị T đã tự ý đưa cháu về quê ngoại mà anh H không biết. Anh H không muốn ly hôn, mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ vì nghĩ đến tương lai của con, tuy nhiên nếu chị T cương quyết ly hôn thì anh H nhất trí. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020. Hiện nay cháu đang ở cùng mẹ tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Do môi trường sống ở thị trấn V tốt hơn môi trường hiện nay cháu sống ở tỉnh Nam Định, công việc của anh H làm tự do nhưng vẫn đủ đảm bảo nuôi con, ngoài ra anh H được sự hỗ trợ thêm của mẹ đẻ, nên anh H nghĩ anh trực tiếp nuôi con thì cháu sẽ có điều kiện sống tốt hơn. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại văn bản ý kiến ngày 09/05/2024 anh H trình bày ý kiến anh có thu nhập cao hơn chị T và có điều kiện về thời gian hơn chị T, về hoàn cảnh gia đình nhà ngoại chị T khó khăn về kinh tế, bố đẻ chị T lại đang bị bệnh ung thư, bản thân chị T bị bệnh viêm gan B mãn tính, do đó anh H có điều kiện về thời gian và kinh tế cũng như sức khỏe hơn để có thể chăm sóc con và cho con có điều kiện phát triển tốt hơn so với chị T.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên hòa giải ngày 22/4/2024, chị Mai Thị T và anh Phan Minh H đã thống nhất được những nội dung sau: Về quan hệ hôn nhân, chị Mai Thị T và anh Phan Minh H tự nguyện thuận tình ly hôn; Về tài sản chung, tài sản riêng và công nợ chung, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên về con chung, chị Mai Thị T và anh Phan Minh H không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con, chị T và anh H đều có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Phan Ngọc M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Để chứng minh cho yêu cầu được trực tiếp nuôi con của mình nguyên đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn xin xác nhận thu nhập, bản phô tô bằng tốt nghiệp cao đẳng, đơn đề nghị của bà Lã Thị N là mẹ đẻ chị Mai Thị T, hình ảnh nơi cháu M học tập tại tỉnh Nam Đinh, bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Mai Trí T2 là bố đẻ chị T. Bị đơn đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn xin xác nhận thu nhập, bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ anh H, S hộ khẩu gia đình ông Mai Trí T2, một số ảnh màu chụp quán nước và quán bi a, Thông báo số định danh cá nhân anh H, bản án số 39/2021/HS-ST ngày 18/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, văn bản xác nhận của giáo viên chủ nhiệm lớp 3 tuổi D.

Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với mẹ đẻ anh Phan Minh H, tổ trưởng tổ dân phố A và ông Nguyễn Xuân T3 là hàng xóm của gia đình anh H tại tổ A, thị trấn V phản ánh về tình trạng hôn nhân và

điều kiện nuôi con của chị Mai Thị T và anh Phan Minh H như sau: Chị Mai Thị T và anh Phan Minh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn lần đầu tại UBND thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang vào năm 2018. Quá trình chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã ly hôn sau đó lại đăng ký kết hôn lại. Tuy nhiên sau khi đăng ký kết hôn lại vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống chung không cải thiện được. Hiện nay anh chị đã sống ly thân, chị T đã đem con bỏ về nhà ngoại tại xã L, T, Nam định sinh sống, còn anh H sống cùng mẹ đẻ lại thị trấn V, B, Hà Giang. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020. Hiện nay cháu đang ở cùng mẹ tại xã L, huyện T, tỉnh Nam Định. Anh H và chị T đều là lao động tự do. Khi ly hôn việc giao con cho ai nuôi đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn - Bà Nguyễn Thị Vân A, bà Đỗ Thị P có ý kiến: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Mai Thị T được ly hôn anh Phan Minh H. Về việc nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình xử giao cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020 cho anh Phan Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi, chị Mai Thị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phan Minh H. Việc nuôi con: đề nghị giao cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Phan Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là chị Mai Thị T chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Mai Thị T có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với bị đơn là anh Phan Minh H, anh Phan Minh H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ A, thị trấn V, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

[2] Tại phiên tòa luật sư Hà Thị T1 - người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Mai Thị T và anh Phan Minh H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị có thời gian ngắn chung sống với nhau hòa thuận tại tổ A, thị trấn V, huyện B. Đến đầu năm 2019 phát sinh mâu thuẫn và anh chị đã ly hôn nhưng sau đó anh chị quyết định hàn gắn nên đã đăng ký kết hôn lại vào năm 2020, tuy nhiên đến năm 2023 vợ chồng tiếp tục phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không khắc phục được. Đến cuối năm 2023 chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ của chị ở xã L, huyện T, tỉnh Nam Định sinh sống, anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Mai Thị T có yêu cầu xin ly hôn anh Phan Minh H. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị T và anh H tự nguyện thuận tình ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình cần xử công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Mai Thị T và anh Phan Minh H.

[4] Về việc nuôi con: Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình chung sống, anh chị có một con chung là cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020. Chị Mai Thị T và anh Phan Minh H đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu M, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, chị T và anh H đều có việc làm, thu nhập và có chỗ ở, đủ điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu M. Tuy nhiên cháu M còn nhỏ, lại là con gái rất cần sự chăm sóc của mẹ, trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cháu M do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Mặt khác, thấy rằng từ khi được sinh ra cho đến nay thời gian cháu M sống cùng mẹ nhiều hơn thời gian cháu sống cùng bố, anh H cũng đang phải chấp hành thời gian thử thách của án treo tại bản án số 39/2021/HS-ST ngày 18/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, theo quyết định của bản án thì Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục anh H trong thời gian thử thách. Việc anh H cho rằng môi trường sống ở thị trấn V, B, Hà Giang tốt hơn môi trường hiện nay cháu M sống cùng mẹ ở tỉnh Nam Định tuy nhiên anh H không chứng minh được việc này. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét, giải quyết, anh Phan Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về chia tài sản chung: chị Mai Thị T và anh Phan Minh H đều trình bày quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung, tài sản riêng và công

nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về án phí: nguyên đơn chị Mai Thị T tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Mai Thị T và anh Phan Minh H
  2. Về việc nuôi con: Giao cháu Phan Ngọc M, sinh ngày 20/11/2020 cho chị Mai Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi, anh Phan Minh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị T, anh H có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Mai Thị T tự nguyện chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Quang theo biên lai số 0002002 ngày 02 tháng 11 năm 2023.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - UBND xã Liêm Hải, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nơi ĐKKH);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn Th-H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger