Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 5 -2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Thu Trang

Ông Lê Thành Đông

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn Bé B

Lê Văn Bé B, sinh ngày 01/01/1987, tại tỉnh Bến Tre; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1935 (đã chết) và Nguyễn Thị B1, sinh năm 1940; vợ Lâm Ánh N, sinh năm 1992 (đã ly hôn) có 01 người con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/8/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Huỳnh Nhựt T1 - Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Anh Trương Văn M, sinh năm 1989. Nơi cư trú: số E, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Trần Văn C, sinh năm 1963 ( vắng mặt).
  2. Bà Trương Thị H, sinh năm 1953 (có mặt).
  3. Ông Trương Văn B2, sinh năm 1963 (vắng mặt).
  4. Bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1966 (có mặt).
  5. Ông Trương Văn N1, sinh năm 1968 (có mặt).

1

Cùng nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Bé B và Trương Văn M là bạn bè chơi chung với nhau nhưng khi uống rượu chung thì cả hai thường xảy ra cự cãi xô xát nhau. Khoảng 19 giờ ngày 12/8/2023, Lê Văn B3 Bảy sau khi đã có uống rượu tại nhà ông Trần Văn C đi về nhà, thì B nghe tiếng Manh đang uống rượu và nói chuyện lớn tiếng bên nhà bà Trương Thị H (gần nhà B). B cho rằng M đang nói xấu mình nên B nảy sinh ý định chém Manh gây thương tích. B đi vào nhà lấy 01 con dao rồi đi đến đoạn đường trước nhà bà Nguyễn Thị B1 (mẹ ruột B) tại ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre để đón đường chém Manh. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày, B thấy M đi về ngang nhà bà B1, B cầm dao xông ra chặn đường hỏi M “Nảy giờ ông nhậu bên nhà bà H, chuyện tui với ông lâu rồi mà ông đem ra nói hoài vậy?”, M trả lời “Tao nhậu, tao đâu có nói xấu gì mày đâu”. Manh vừa trả lời xong thì bị B cầm dao xông vào chém nhiều nhát vào người M tại vai phải, cánh tay phải, ngực phải, ngực trái, đầu, cằm và cổ. Manh bị chém nên bỏ chạy về nhà bà H, còn B ngồi lại tại hiện trường. Sau đó, M được mọi người đưa đi cấp cứu.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 con dao cán bằng gỗ màu trắng – nâu, đường kính cán dao 3,3cm, chiều dài cán dao 11,8cm, hai đầu cán dao có gắn hai khoen bằng kim loại màu đen; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng - đen, mũi dao bằng, nơi rộng nhất của lưỡi dao 6,9cm, chiều dài lưỡi dao 28,2cm, dao có một bề sống và một bề lưỡi sắc bén, dao nặng 355 gam.

Tại Bản Kết luận giám định số 334/23/KLTTCT-TTPYBT ngày 03/10/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Văn M tại thời điểm giám định là 31% . Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc gây ra.

Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 936/KL-VPYTW ngày 05/12/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B4 kết luận:

- Về y học: trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị rối loạn nhân cách hành vi do sử dụng rượu (F10.71 – ICD.10).

- Về khả năng nhận thức, điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Trong quá trình điều tra bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập.

2

Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản như chi phí cứu chữa là 15.000.000 đồng; khoản tiền mất thu nhập của bị hại là 25 ngày, mỗi ngày là 200.000 đồng với số tiền là 5.000.000 đồng, tổng số tiền bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường là 20.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại và đã bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm gì khác.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKSGT, ngày 25/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Lê Văn Bé B về "Tội cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng trước ngày 12/8/2023 bị cáo và M có cự cãi với nhau nhưng đó là mâu thuẩn nhỏ không đáng kể, nguyên nhân chém bị cáo chém M là do bị cáo nghe Manh nói chuyện bên nhà bà H nên bị cáo nghĩ là M nói xấu bị cáo, khi đó bị cáo đã có uống rượu không tự kiểm soát được hành vi của mình, bị cáo đã lấy dao đón M và khi thấy M về ngang thì bị cáo đã dùng dao chém Manh nhiều nhát trên cơ thể trúng vào vai phải, cánh tay phải, ngực phải, ngực trái, đầu, cằm và cổ của M với tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 31%. Bị cáo đồng ý bồi thường các khoản theo yêu cầu của bị hại, với tổng số tiền là 20.000.000 đồng và đã bồi thường xong.

Bị hại trong vụ án xác định: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung diễn biến của sự việc bị cáo chém bị hại bị thương tích ngày 12/8/2023. Về trách nhiệm dân sự bị hại vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu bị cáo bồi thường như trong quá trình điều tra là yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản về chi phí cứu chữa, khoản mất thu nhập của bị hại trong thời gian điều trị với tổng số tiền là 20.000.000 đồng, bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, về trách nhiệm hình sự có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Lê Văn B3 Bảy phạm “Tội cố ý gây thương tích”.

  • Về trách nhiệm hình sự: căn cứ điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Lê Văn Bé B có mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
  • Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 01(một) con dao của bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội đã thu giữ trong vụ án.

3

Người bào chữa cho bị cáo: thống nhất với tội danh truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm đối với bị cáo về "Tội cố ý gây thương tích” thống nhất về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Viện kiểm sát đã đề nghị cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn Bé B với mức án thấp nhất của Viện kiểm kiểm sát đã đề nghị.

Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi bị hại cùng gia đình bị hại, bị cáo cho rằng đã hối hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người làm chứng là Trần Văn C, Trương Văn B2 đều vắng mặt, tuy nhiên trong quá trình điều tra những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã có lời khai rõ ràng, xét thấy sự vắng mặt của những người này không làm trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ khác của Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có cơ sở khẳng định: vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 12/8/2023 tại ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre, Lê Văn Bé B đã có hành vi dùng dao (là hung khí nguy hiểm) chém Trương Văn M gây thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 31%.

Xuất phát từ việc bị cáo nghe bị hại nói chuyện bên nhà bà H bị cáo nghĩ rằng bị hại nói xấu bị cáo vì trước đó giữa bị cáo và bị hại có cự cãi mâu thuẫn với nhau nhưng không đáng kể. Tuy nhiên, bị cáo đã chủ động lấy dao đón chém liên tục nhiều nhát trên cơ thể bị hại, hành vi của bị cáo thể hiện tính hung hăng xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, do đó có căn cứ xác định hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ.

4

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lê Văn B3 Bảy phạm “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ y quan điểm truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Bị cáo nhận thức được rằng việc xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo xem thường pháp luật, thể hiện tính côn đồ, sử dụng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa bàn nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, chỉ một mình bị cáo gây thương tích đối với bị hại, do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hậu quả hành vi của bị cáo gây ra.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • Về nhân thân: tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được xem là có nhân thân tốt.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội, định khung hình phạt thì bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Ngoài ra, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo. Do đó, bị cáo được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, hạ khung hình phạt giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6] Qua xem xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm rất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất côn đồ. Do đó, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng sức khỏe của người khác và nhằm góp phần răn đe phòng ngừa tội phạm.

5

[7] Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại các khoản chi phí cứu chữa, khoản mất thu nhập của bị hại với tổng số tiền 20.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

[8] Về xử lý vật chứng: đối với 01(một) con dao, cán bằng gỗ màu trắng - nâu, đường kính cán dao 3,3cm, chiều dài cán dao 11,8cm, hai đầu cán dao có gắn 02 khoen bằng kim loại màu đen; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng - đen, mũi dao bằng, nơi rộng nhất lưỡi dao 6,9cm, chiều dài lưỡi dao 28,2cm, dao có một bề sống và một bề lưỡi dao sắc bén, trọng lượng dao 355gam, vật chứng này là của bị cáo bị cáo đã sử dụng làm công cụ phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng, xét cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng trong vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo:

  • Về điều luật áp dụng: đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • Về mức hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn Bé B có mức án thấp nhất của Viện kiểm đề nghị là chưa tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn Bé B thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn B3 Bảy phạm “Tội cố ý gây thương tích”.

1. Căn cứ điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp điểm a, i khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Lê Văn B3 Bảy 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/8/2023.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy: 01(một) con dao, cán bằng gỗ màu trắng - nâu, đường kính cán dao 3,3cm, chiều dài cán dao 11,8cm, hai đầu cán dao có gắn 02 khoen bằng kim loại màu đen; lưỡi dao bằng kim loại màu trắng - đen, mũi dao bằng, nơi rộng nhất lưỡi dao 6,9cm, chiều dài lưỡi dao 28,2cm, dao có một bề sống và một bề lưỡi dao sắc bén, trọng lượng dao 355gam (theo biên bản giao nhận vật chứng

6

ngày 2024 của Công an huyện G, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn Bé B được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE về hình sự - tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger