Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày: 24-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Dương Thị Thu Hằng; nghề nghiệp: Giáo viên.
  2. Ông Trần Văn Cường; nghề nghiệp: Hưu trí.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với:

Các bị cáo:

  1. Trần P, tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/02/2007 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Không; ĐKNKTT và chổ ở: Thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông Trần Q và bà Phan Thị T; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

  2. Trần Nguyễn Bình N, tên gọi khác: Mon; sinh ngày: 21/11/2007 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Không; ĐKNKTT và chổ ở: Tổ C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đăng T1 và bà Nguyễn Thị Thanh T2; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 17/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

3. Người bào chữa cho bị cáo P:

Bà Đỗ Thị Thanh H - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

4. Người bào chữa cho bị cáo N:

Ông Nguyễn Văn C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

5. Người đại diện hợp pháp của bị cáo P:

Ông Trần Q, sinh năm 1983 và bà Phan Thị T, sinh năm 1984; cùng địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông Q vắng mặt, bà T có mặt.

6. Người đại diện hợp pháp của bị cáo N:

Ông Trần Đăng T1, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1989; cùng địa chỉ: Tổ C, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ông T1 vắng mặt, bà T2 có mặt.

- Bị hại: Ông Ngô Tá T3, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn L, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Phan Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Lê Minh T4, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h ngày 29/12/2023, Trần P rủ Trần Nguyễn Bình N, đi lấy trộm tài sản thì N đồng ý; N điều khiển 01 xe máy điện, màu đen, BKS: 75MĐ6-004.36 (xe của bà Phan Thị T, mẹ ruột của P), chở P đi về nhà ông Ngô Tá T3, sinh năm: 1954, trú tại Thôn L, xã T, thị xã H (người quen của P). Khi đến nhà ông T3, P nói N đứng ở ngoài chờ, rồi một mình đi vào nhà ông T3 để tìm kiếm tài sản lấy trộm. Tại đây, P phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen vàng đồng, BKS: 75G1 - 411.42, đang dựng trước sân, nên P lén lút vào trong nhà lấy trộm chìa khóa xe rồi ra lấy xe tẩu thoát cùng N. Sau khi lấy trộm được xe mô tô nói trên, PN lên mạng xã hội tìm người mua xe thì liên hệ được với anh Nguyễn Lê Minh T4, sinh năm 1992, trú tại khu N, thị trấn Á, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Anh T4 hẹn PN gặp và xem xe tại đường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 14 giờ ngày 31/12/2023, khi đang xem xe tại địa chỉ nói trên, thì anh T4 nghi ngờ xe trộm cắp nên đã trình báo Cơ quan Công an đến làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, PN đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen - vàng đồng, BKS: 75G1 - 411.42, cùng chìa khoá xe; 01 xe máy điện không nhãn hiệu, màu đen, BKS: 75MĐ6 - 004.36.

Hiện xe mô tô, cùng chìa khoá xe và xe máy điện, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 08 ngày 09/01/2024, của Hội đồng định giá UBND thị xã H, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen - vàng đồng, BKS: 75G1 - 411.42, cùng chìa khoá xe, có giá trị là 29.463.000 đồng (Hai mươi chín triệu bốn trăm sáu mươi ba ngàn đồng chẵn).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-HTh ngày 02/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố các bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65, Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự, Xử phạt: Bị cáo Trần P từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm đến 02 năm 06 tháng; bị cáo Trần Nguyễn Bình N từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 18 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Người bào chữa cho bị cáo Trần P, Trần Nguyễn Bình N trình bày lời bào chữa: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần P, bị cáo Trần Nguyễn Bình N là người chưa đủ tuổi thành niên, chưa nhận được sự quan tâm, giáo dục đầy đủ của gia đình. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị cho bị cáo P từ 06 đến 09 tháng tù nhưng được hưởng án treo. Đối với bị cáo N đề nghị cho bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Các bị cáo Trần P, Trần Nguyễn Bình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; đồng ý theo nội dung bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 11h ngày 29/12/2023, tại địa chỉ Thôn L, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần PTrần Nguyễn Bình N đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen- vàng đồng, biển kiểm soát: 75G1-411.42 của ông Ngô Tá T3, trị giá là: 29.463.000 đồng.

Hành vi nêu trên các bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N theo Cáo trạng số 23/CT-VKS-HTh ngày 02/4/2024 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều phải bị xử lý. Song xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân, các bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N đều là người chưa thành niên, có nhân thân thân tốt, không có tiền án, tiền sự và có nhiều tình tiết giảm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ mang tính chất nhất thời, các bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo được nên không nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng, cần cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo N được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tang số phạm tội không nhỏ nên mức hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là không đủ sức răn đe và giáo dục bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận ý kiến đề nghị của người bào chữa cho bị cáo N được.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Các vật chứng bị thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen - vàng đồng, BKS: 75G1 - 411.42, cùng chìa khoá xe; 01 xe máy điện không nhãn hiệu, màu đen, BKS: 75MĐ6 - 004.36. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho các chủ sỡ hữu theo đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo;

    Xử phạt:

    • - Bị cáo Trần P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Trần P cho Ủy ban nhân xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.
    • - Bị cáo Trần Nguyễn Bình N 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao bị cáo Trần Nguyễn Bình N cho Ủy ban nhân phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo các quy định của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần PTrần Nguyễn Bình N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - CQĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - CQTHAHS Công an TX Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - UBND xã Hương Phong, thành phố Huế;
  • - UBND phường Thủy Phương, tx Hương Thủy;
  • - Bị cáo; Đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần P và Trần Nguyễn Bình N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger