Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/DS-ST

Ngày 24 tháng 4 năm 2024

V/v: “Tranh chấp bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng”

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Biên;
  2. Ông Nguyễn Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm canh khai vụ án dân sự thụ lý số: 201/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1982, địa chỉ: Số nhà C, đường X, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt).
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1972, địa chỉ: Số nhà B, ngõ C, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, ông Lê Ngọc T xác định:

Đêm ngày 14/5/2023, ông đang ngồi uống rượu tại nhà người bạn tại trước cửa số nhà B, ngõ C, đường N, phường T thì ông Nguyễn Thanh T1 vô cớ đến gây sự và dùng chân đá một cái vào miệng ông, làm ông gãy răng, chảy nhiều máu. Sau khi bị đánh, ông được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Vào viện lúc 5 giờ 14 phút ngày 15/5/2023, đến chiều ngày 18/5/2023 thì ra viện. Sau khi sự việc xảy ra, ông có đơn tố cáo gửi đến Công an thành phố B. Quá trình giải quyết Công an thành phố B kết luận không đủ cơ sở để khởi tố ông Nguyễn Thanh T1. Kết luận giám định của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định ông bị tổn thương cơ thể là 03%. Ông khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 phải bồi thường thiệt hại các khoản như sau:

  1. Thiệt hại do bị mất thu nhập, nghỉ việc hai tháng là 36.000.000 đồng. Khi đó ông làm công việc lái xe taxi thuê cho ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1985; địa chỉ: Số A, đường Á, phường T, thành phố B. Giữa hai bên chỉ thỏa thuận miệng, chứ không ký hợp đồng cụ thể, với mức lương là 18.000.000 đồng/1 tháng;
  2. Tiền viện phí và tiền thuốc là 3.000.000 đồng;
  3. Tiền làm răng: 9 chiếc x 5.000.000 đồng là 45.000.000 đồng. Do thương tích, nên phải thay thế 9 chiếc răng theo chỉ định bằng miệng của bác sỹ phải làm dịch vụ ngoài bệnh viện. Nhưng thực tế, đến thời điểm này, ông vẫn chưa đi làm thay thế 9 chiếc răng như nói trên;
  4. Tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng.
  5. Tiền chi phí cho người tôi thuê chăm sóc trong 1 tháng điều trị tại nhà là 10.000.000 đồng.

Tổng cộng là: 104.000.000 đồng (Một trăm linh tư triệu đồng).

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh T1 xác định:

Tối ngày 14/5/2023, ông T uống rượu tại nhà bạn trước cửa số nhà B, ngõ C, đường N, phường T. Trong những người tham gia uống rượu thì có anh Nguyễn Hoài N là cháu ruột của ông. Đến khoảng 1 giờ sáng hôm sau, ông và vợ ông đến gọi anh N về, vợ ông kéo áo anh N về thì ông T chửi bới, xúc phạm vợ ông, ông bức xúc, không kìm chế được và dùng chân đạp vào anh T một cái. Hậu quả ông T phải đi điều trị tại Bệnh viện là tổn thương sức khỏe là 03%. Sau khi sự việc xảy ra, ông có đến gặp ông T xin lỗi và tự nguyện bồi thường, nhưng ông T không thiện chí và yêu cầu ông bồi thường 200.000.000 đồng là quá vô lý. Nay, ông T yêu cầu bồi thường các khoản nêu trên, ông không đồng ý. Ông đồng ý bồi thường cho ông T theo căn cứ là tiền mất thu nhập là 3.000.000 đồng; tiền viện phí và điều trị theo hóa đơn của bệnh viện là 2.145.685 đồng; tiền tổn thất tinh thần là 3.600.000 đồng. Tổng cộng là 8.745.685 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên họp hòa giải nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

Tại phiên toà, các đương sự trình bày giữ nguyên quan điểm nêu trên.

Phần tranh luận: Các đương sự không có ý kiến tranh luận gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

  • Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T.
  • Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải bồi thường thiệt hại cho ông Lê Ngọc T các khoản từ 14.345.685 đồng đến 17.345.685 đồng.
  • Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa các đương sự trong vụ án là quan hệ dân sự. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 26; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Xét thời hiệu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện:

3.1. Về thời hiệu khởi kiện:

Sự việc xảy ra ngày 15/5/2023, ngày 29/11/2023 ông Lê Ngọc T có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, nên vẫn còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 588 của Bộ luật dân sự.

3.2. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T, Hội đồng xét xử đánh giá như sau:

Qua lời khai của các đương sự và tài liệu của Cơ quan điều tra thu thập được, thể hiện sự việc đêm ngày 14/5/2023 sang giờ ngày 15/5/2023 do mâu thuẫn trong giải quyết sự việc, ông Nguyễn Thanh T1 có gây thương tích cho ông Lê Ngọc T.

Nay, ông Lê Ngọc T yêu cầu ông Nguyễn Thanh T1 bồi thường thiệt hại các khoản:

  1. (1). Tiền viện phí và tiền thuốc là 3.000.000 đồng;
  2. (2). Tiền làm răng: 9 chiếc x 5.000.000 đồng là 45.000.000 đồng.
  3. (3). Thiệt hại do bị mất thu nhập, nghỉ việc hai tháng là 36.000.000 đồng.
  4. (4). Tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng.
  5. (5). Tiền chi phí cho người tôi thuê chăm sóc tôi trong 1 tháng điều trị tại nhà là 10.000.000 đồng.

Tổng cộng là: 104.000.000 đồng (Một trăm linh tư triệu đồng).

Đối với tiền viện phí và tiền thuốc: Tại Phiếu thu ngày 18/5/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B thể hiện số tiền 2.145.685 đồng, nên chỉ có căn cứ chấp nhận số tiền này.

Đối với khoản tiền làm răng: 9 chiếc x 5.000.000 đồng là 45.000.000 đồng. Ông T phải thay thế 9 chiếc răng theo chỉ định bằng miệng của bác sỹ phải làm dịch vụ ngoài bệnh viện. Nhưng thực tế, đến thời điểm này, ông vẫn chưa đi làm thay thế 9 chiếc răng như nói trên. Do vậy, chưa có căn cứ chấp nhận, khi nào ông T thực hiện việc thay răng theo chỉ định của Bác sỹ và có căn cứ sẽ xem xét giải quyết khi ông T khởi kiện.

Đối với yêu cầu của ông T về thiệt hại do bị mất thu nhập, nghỉ việc hai tháng là 36.000.000 đồng, tương đương với thu nhập mỗi ngày 600.000 đồng là không phù hợp với thực tế. Theo ông Nguyễn Văn T2 cung cấp thì thời gian đó, ông Lê Ngọc T có lái xe thuê cho ông, hàng tháng ông trả công cho ông Lê Ngọc T 12.000.000 đồng tương đương 400.000 đồng/ ngày là phù hợp. Tuy nhiên, theo chỉ định của cơ sở y tế khám lại sau 1 tháng chứ không phải thời gian ông Lê Ngọc T nghỉ việc. Do đó, có căn cứ ông T phải nghỉ việc trong thời gian 2 tháng (60 ngày) là không phù hợp. Với thương tích 3% thì có căn cứ chấp nhận ông T nghỉ việc điều trị cả ở bệnh viên và tại nhà là 10 ngày. Nên tiền mất thu nhập của ông T là 400.000 đồng x 10 ngày = 4.000.000 đồng.

Đối với số tiền tổn thất tinh thần là 10.000.000 đồng, ông T yêu cầu là chưa phù hợp, chỉ có căn cứ chấp nhận 03 tháng lương cơ sở là 5.400.000 đồng.

Đối với chi phí cho người ông T thuê chăm sóc trong 1 tháng điều trị tại nhà là 10.000.000 đồng nhưng ông T không có chứng cứ chứng minh. Do đó có căn cứ chấp nhận công người chăm sóc ông T tại bệnh viện là 4 ngày x 300.000 đồng = 1.200.000 đồng.

Ngoài ra, cần buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải trả cho ông Lê Ngọc T một khoản tiền bồi dưỡng sức khỏe là 4.000.000 đồng.

Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Lê Ngọc T các khoản tiền là: Tiền viện phí và tiền thuốc là 2.145.685 đồng; thiệt hại do bị mất thu nhập, nghỉ việc là 4.000.000 đồng; tổn thất tinh thần là 5.400.000 đồng; công người chăm sóc là 1.200.000 đồng; bồi dưỡng sức khỏe 4.000.000 đồng. Tổng cộng 16.745.685 đồng (Mười sáu triệu, bẩy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm tám mươi lăm đồng) theo quy định tại Điều 584, Điều 590 của Bộ luật dân sự.

[4] Về án phí:

Do yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T được chấp nhận một phần, nên ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu án phí đối với số tiền ông T yêu cầu được chấp nhận, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Ngọc T về yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với ông Nguyễn Thanh T1.
  2. Buộc ông Nguyễn Thanh T1 phải bồi thường cho ông Lê Ngọc T số tiền 16.745.685 đồng (Mười sáu triệu, bẩy trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm tám mươi lăm đồng).
  3. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu 837.000 đồng (Tám trăm ba mươi bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND TP. Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - CCTHADS TP. Bắc Giang;
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Trần Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/DS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Số bản án: 22/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bồi thường thiệt hại ngoài HĐ Thái - Tùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger