|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-7-2024
“V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước
Ông Hà Văn Quen
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Chị Ngô Thị D, sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn Phạm Ngọc C trình bày: Vào năm 2011, anh với chị Ngô Thị D khi đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh thì quen biết và tìm hiểu nhau, sau đó hai người tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 07/04/2011 tại Ủy ban nhân dân xã D. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại ấp C, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh được khoảng 01 năm thì trở lên Thành phố Hồ Chí Minh để đi làm. Vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì đến cuối năm 2017 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau do bất đồng quan điểm trong công việc và trong cuộc sống hàng ngày, còn nguyên nhân mâu thuẫn nữa là trước đây khi còn sống chung anh đi làm có tiền đưa cho chị D giữ nhưng chị D xài tiền rất phung phí, anh cũng không biết sử dụng tiền vào việc gì, cứ 2 - 3 ngày là hết tiền, rồi còn mượn tiền của hàng xóm xung quanh. Khi đứa con trai lớn là Phạm Tuấn A được khoảng 04 tuổi thì chị D đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở thị xã D, tỉnh Trà Vinh, từ đó đến nay vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Nay anh yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải giải quyết cho ly hôn với chị Ngô Thị D, về con chung anh yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Phạm Tuấn A, giao cháu Phạm Anh T cho chị Ngô Thị D nuôi dưỡng. Tài sản chung và nợ chung thì không có.
- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có gặp và tiếp xúc với cháu Phạm Tuấn A, sinh năm 2011 và cháu Phạm Anh T, sinh năm 2013 là con ruột của anh C và chị D; cháu Tuấn A có nguyện vọng muốn ở với anh C, còn cháu Anh T có nguyện vọng sống với chị D.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Phạm Ngọc C và chị Ngô Thị D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thời gian ly thân đã rất lâu, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung, đề nghị giao cháu Phạm Tuấn A cho anh C nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Anh T cho chị D nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Ngô Thị D được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án, xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn anh Phạm Ngọc C: Hội đồng xét xử xét thấy, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên qua lời khai của anh C, cũng như qua xác minh mẹ ruột của chị D thì vợ chồng anh chị đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, ly thân đến nay cũng đã lâu (hơn 07 năm). Nhận thấy, tình trạng vợ chồng giữa hai người đã rạn nứt, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Phạm Ngọc C.
[3] Về con chung: Anh C và chị D có với nhau hai người con chung là cháu Phạm Tuấn A, sinh năm 2011 và cháu Phạm Anh T sinh năm 2013. Xét thấy cháu Tuấn A có nguyện vọng ở với anh C, cháu Anh T có nguyện vọng ở với chị D, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Tuấn A cho anh C tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Anh T cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Anh C phải chịu án phí ly hôn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc C được ly hôn với chị Ngô Thị D.
- Về con chung: Giao cháu Phạm Tuấn A, sinh năm 2011 cho anh Phạm Ngọc C tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Anh T, sinh năm 2013 cho chị Ngô Thị D nuôi dưỡng.
- Về án phí: Anh Phạm Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo biên lai thu tiền số 0003909 ngày 11/6/2024.
- Anh Phạm Ngọc C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Ngô Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Trà Vinh;
- - VKSND thị xã Duyên Hải;
- - Chi cục THADS thị xã Duyên Hải;
- - UBND xã Dân Thành;
- - Đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
||
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Trần Văn Nước |
Hà Văn Quen |
Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc Châu được ly hôn với chị Ngô Thị Dung. 2. Về con chung: Giao cháu Phạm Tuấn Anh, sinh năm 2011 cho anh Phạm Ngọc Châu tiếp tục nuôi dưỡng, giao cháu Phạm Anh Tú, sinh năm 2013 cho chị Ngô Thị Dung nuôi dưỡng. 3. Về án phí: Anh Phạm Ngọc Châu phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh theo biên lai thu tiền số 0003909 ngày 11/6/2024. 4. Anh Phạm Ngọc Châu có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Ngô Thị Dung có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
