|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 22/2024/HNGĐ-PT Ngày: 23/7/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Bà Nguyễn Tuyết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 23/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLPT- HNGĐ ngày 09/5/2024 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 51/2023/HNGĐ- ST ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 57/2024/QĐ- PT ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị L, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà L: Bà Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B, khu phố Đ, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L: Ông Nguyễn Hữu L1, Luật sư thuộc Công ty L3 - Chi nhánh B, Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1956; địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Anh Phạm Tiến Q, sinh năm 1981; địa chỉ: Số F N, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; địa chỉ: Đường H, phường H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1983 (có mặt).
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1988; địa chỉ: Khu phố H, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân Đ1; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao S; chức vụ: Phó trưởng phòng - Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lưu Thị L; bị đơn ông Nguyễn Văn Đ; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là bà Lưu Thị L trình bày: Ngày 15/12/1993 (âm lịch), bà và ông Đ được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức hôn lễ, bà đã nhập hộ khẩu vào hộ gia đình ông Đ tại thôn N (nay là khu phố N). Sau thời gian chung sống hòa thuận, năm 2012 thì ông bà bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên bà đã ra Hà Nội làm thuê và sống ly thân với ông Đ. Sau đó, bà có về để tiếp tục chung sống với ông Đ nhưng đến năm 2016 lại tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn, từ đó bà đã sống ly thân với ông Đ đến nay. Nay bà xác định mâu thuẫn giữa bà với ông Đ đã thật sự trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông Đ.
Về con chung: Trước khi về chung sống như vợ chồng với ông Đ, ông Đ đã có 03 người con riêng gồm anh Nguyễn Văn Đ2, anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị P. Bà và ông Đ cùng nhau chăm sóc các con riêng của ông Đ. Tại thời điểm bà L về chung sống với ông Đ, anh Đ2 mới được 09 tuổi, anh H 06 tuổi và chị P 04 tuổi. Quá trình chung sống, bà L và ông Đ không có con chung nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Quá trình sống chung, bà và ông Đ tạo dựng được khối tài sản chung gồm: Quyền sử dụng đối với 03 thửa đất số 9, 13 và 29, cùng tờ bản đồ số 11 có địa chỉ tại khu phố N. Năm 1998, 03 thửa đất trên đã được UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ. Ngoài ra, còn có 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng năm 2005 trên thửa đất số 13.
Thửa đất ở số 29, có diện tích 312m² là đất ở của bố mẹ ông Đ cho bà và ông Đ. Thửa đất số 9, diện tích 365m² và thửa đất số 13, diện tích 240m² đều là đất ao và đều do bà và ông Đ mua của thôn N năm 1995; khi mua 02 thửa đất này các con riêng của ông Đ còn nhỏ, bà vẫn phải chăm sóc nuôi dưỡng nên không có công sức đóng góp gì.
Đối với khối tài sản chung là 03 thửa đất trên và 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng năm 2005 trên thửa đất số 13, bà đề nghị Tòa án chia theo quy định của pháp luật và bà xin nhận bằng hiện vật là một diện tích đất cụ thể để bà làm chỗ ở.
Về đất nông nghiệp: Bà đề nghị Tòa án xem xét xác định diện tích đất nông nghiệp 513,6m² là của bà và buộc ông Đ phải trả lại cho bà diện tích đất nông nghiệp này cùng số tiền 10.500.000 đồng là tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nông nghiệp tại xứ đồng Chăn nuôi. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bà L xác nhận ông Đ đã trả phần đất nông nghiệp mà bà được hưởng theo Biên bản bàn giao trả ruộng đề ngày 15/12/2012. Nay bà đề nghị Tòa án xác nhận bà được quyền sử dụng diện tích 504m² đất nông nghiệp (trong đó: Xứ đồng M là 288m² và xứ đồng Mới là 216m²) và rút yêu cầu đối với số tiền 10.500.000 đồng là tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nông nghiệp tại xứ đồng Chăn nuôi.
Đối với yêu cầu của ông Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 007965 cấp ngày 22/12/1998 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ đối với 03 thửa đất số 9, 13 và 29, cùng tờ bản đồ số 11 thì bà không đồng ý vì bà L cho rằng đây là tài sản chung của bà và ông Đ. Năm 1998, ông Đ làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu đối với cả 03 thửa đất này, ông Đ tự nguyện xin cấp cho hộ gia đình trong đó có bà là vợ của ông Đ.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông và bà Lâm c sống với nhau như vợ chồng từ ngày 15/12/1993 (âm lịch), mặc dù có tổ chức hôn lễ theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, năm 2012 ông bà bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bà L quản lý kinh tế trong gia đình dẫn đến thất thoát nhưng không giải thích được. Sau đó, bà L tự ý bỏ nhà ra Hà Nội để làm thuê. Ông có thuyết phục bà L về để tiếp tục chung sống, nhưng năm 2016 bà L lại tiếp tục làm thất thoát kinh tế gia đình rồi lại bỏ đi từ đó đến nay. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông thì ông không đồng ý vì giữa ông và bà L không phải là vợ chồng.
Về tài sản chung: Ông thừa nhận có 03 thửa đất số 9, 13 và 29, cùng tờ bản đồ số 11 tại khu phố N đã được UBND huyện T (nay là thị xã T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ năm 1998 cùng 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng năm 2005 trên thửa đất số 13.
Nguồn gốc cụ thể của 03 thửa đất này như sau: Thửa đất số 9 và 13 đều do ông mua ngày 08/5/1993. Thửa đất số 29 là do ông cha để lại cho riêng ông. Cả 03 thửa đất này là tài sản của riêng ông và có trước khi bà L về chung sống, bà L không có bất cứ đóng góp gì trong việc tạo lập 03 thửa đất này nên ông không đồng ý chia khối tài sản này cho bà L.
Ông Đ cho rằng, bà L không phải là vợ của ông mà chỉ về chung sống với ông như vợ chồng từ ngày 15/12/1993 (âm lịch). Bản thân ông tại thời điểm bà L về chung sống như vợ chồng, ông không có đề nghị nhập bà L vào hộ khẩu gia đình ông, việc nhập khẩu này là do bà L tự làm và có sự giúp đỡ của cấp có thẩm quyền, bà L làm thủ tục nhập khẩu vào gia đình ông với mục đích gì thì ông không rõ. Cả 03 thửa đất này là đất do cha ông để lại cho ông và đất do tự ông mua được trước khi bà L về chung sống, bà L không có bất cứ đóng góp gì để tạo lập ra 03 thửa đất này nên bà L không có quyền được thừa hưởng và yêu cầu chia đối với 03 thửa đất này. Cả 03 thừa đất này cấp cho hộ gia đình ông tại thời điểm đó là không đúng đối tượng, nhưng do chính sách của Nhà nước về đất đai lúc đó quy định như vậy nên ông không có ý kiến gì. Do đó, ông đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 007965 đối với 03 thửa đất nêu trên.
Đối với ngôi nhà 02 tầng, xây dựng năm 2005 trên thửa đất số 13, ông thừa nhận có công sức đóng góp của bà L. Tuy nhiên, phần nhiều là do các con của ông góp tiền cùng ông làm nên. Tất cả công sức của bà L trong việc tạo dụng tài sản này thì ông đã thanh toán trả cho bà L đầy đủ trước khi bà L chuyển khẩu đi vào năm 2018.
Về đất nông nghiệp: Sau khi bà L bỏ đi và đòi lại ruộng, ông đã cắt trả đủ tiêu chuẩn trả cho bà L và có bà Nguyễn Thị Thùy D1 (tên gọi khác: C) là kế toán Đội sản xuất số 16 thời điểm đó làm chứng. Do đã trả lại ruộng đất nông nghiệp theo định xuất cho bà L nên ông không đồng ý trả cho bà L 10.500.000 đồng là tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất nông nghiệp tại xứ đồng Chăn nuôi.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Đ chấp nhận chia cho bà L một phần công sức đóng góp tương ứng với 1/5 giá trị còn lại của ngôi nhà 02 tầng, xây dựng trên thửa đất số 13.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Nguyễn Văn Đ2 đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị P trình bày: Bố anh là ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1956 kết hôn với mẹ anh là bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960 (chết năm 1990). Quá trình chung sống, bố mẹ anh sinh được 03 người con gồm: Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1983; Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 và Nguyễn Thị P, sinh năm 1988. Năm 1990, bà H1 chết. Năm 1993, bà L về chung sống với bố anh nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, ông Đ và bà L không có con chung. Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bố anh, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Thửa đất số 9 và 13, cùng tờ bản đồ số 11 đều có nguồn gốc là do bố anh mua ngày 08/5/1993. Thửa đất số 29 có nguồn gốc là do ông cha để lại cho bố mẹ anh là ông Đ và bà H1. Bà L không có bất cứ đóng góp gì đối với việc tạo lập ra 03 thửa đất này nên anh Đ2, anh H và chị P không đồng ý với yêu cầu chia tài sản chung của bà L.
Đối với ngôi nhà 02 tầng, xây dựng năm 2005 trên thửa đất số 13 anh thừa nhận có công sức đóng góp của bà L. Tuy nhiên, phần nhiều là do 03 anh em anh cùng ông Đ góp tiền xây dựng. Tất cả công sức của bà L trong việc tạo dựng tài sản này, ông Đ đã thanh toán cho bà L đầy đủ trước khi bà L chuyển khẩu đi năm 2018.
Nay anh yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 007965 mang tên hộ gia đình ông Nguyễn Văn Đ đối với 03 thửa đất số 9, 13 và 29, cùng tờ bản đồ số 11.
Đối với yêu cầu phân chia diện tích đất nông nghiệp, theo như anh được biết sau khi bà L bỏ đi thì ông Nguyễn Văn Đ đã trả đủ tiêu chuẩn cho bà L, việc trả ruộng có lập biên bản và có bà Nguyễn Thị Thùy D1 (tên gọi khác: C) là kế toán Đội sản xuất số 16 thời điểm đó làm chứng. Anh đề nghị Tòa án xác nhận bà L được quyền sử dụng diện tích đất nông nghiệp này.
Người đại diện theo ủy quyền của UBND thị xã T có văn bản trình bày: Thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số O 007965 ngày 22/12/1998 cho hộ ông Nguyễn Văn Đ đối với 03 thửa đất số 9, 13 và 29, cùng tờ bản đồ số 11 tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) của UBND huyện T (nay là thị xã T) là đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ và anh Đ2 đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn V trình bày: Ông có cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Lưu Thị L vay số tiền 500.000.000 đồng. Ông có yêu cầu độc lập, đề nghị Tòa án buộc ông Đ, bà L phải trả cho ông số tiền trên. Tuy nhiên, ngày 07/7/2022 ông V đã tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu độc lập này.
Từ nội dung trên, bản án sơ thẩm đã căn cứ các khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 235; Điều 244; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sư; các Điều 9; Điều 14; Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; các Điều 210, Điều 213, Điều 219 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Lưu Thị L và ông Nguyễn Văn Đ.
- Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Lưu Thị L.
Giao cho bà Lưu Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 9, tờ bản đồ số 11, diện tích 365m² tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Giao cho ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 11, diện tích 240m² và thửa đất số 29, tờ bản đồ số 11, diện tích 312m² cùng 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 11 đều có địa chỉ tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
Ông Nguyễn Văn Đ phải trích trả cho bà Lưu Thị L giá trị chệnh lệch về tài sản số tiền 586.955.000 đồng.
Xác nhận bà Lưu Thị L có quyền sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp 504m², trong đó: Diện tích đất nông nghiệp tại xứ đồng Miễu là 288m² và diện tích đất nông nghiệp tại xứ đồng Mới là 216m².
Bà Lưu Thị L và ông Nguyễn Văn Đ có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc làm thủ tục sang tên đối với các thửa đất được giao theo quy định.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của bà Lưu Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả số tiền 10.500.000 đồng và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn V về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ cùng bà Lưu Thị L phải trả số tiền 500.000.000 đồng. Các đương sự có quyền khởi kiện lại bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 22/12/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Đ2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông Đ và anh Đ2 đề nghị cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung của bà L đối với 03 thửa đất số 09, 13, 29, cùng tờ bản đồ số 11; công nhận 03 thửa đất này là tài sản riêng của ông Đ; hủy GCNQSD đất số O 007965 do UBND huyện T cấp ngày 22/12/1998 mang tên hộ ông Nguyễn Văn Đ hoặc hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Ngày 29/12/2023, nguyên đơn bà Lưu Thị L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét định giá lại thửa đất số 29 và chia cho bà ½ giá trị tài sản chung vợ chồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn với lý do như sau: Bà L và ông Đ không đăng ký kết hôn nhưng có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương từ năm 1992. Về nguồn gốc 03 thửa đất thì đối với thửa đất số 29 là do bố mẹ ông Đ cho ông Đ và bà L, năm 1995 ông Đ và bà L mua của địa phương 02 thửa đất số 13 và thửa số 9 bằng nguồn tiền của 02 ông bà tích góp và vay mượn. Đối với tài sản xây dựng trên thửa đất số 13 cũng do ông Đ và bà L, thời điểm này có con ông Đ còn nhỏ chưa có đóng góp vào khối tài sản. Ngoài ra, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Án lệ số 03 đối với thửa đất số 29 và cả 03 thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều mang tên hộ ông Đ. Tại đơn kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận ghi ông Đ là chủ hộ, bà L là vợ và các con của ông Đ, gồm 05 thành viên. Quá trình giải quyết vụ án, ông Đ cho rằng khi bà L chuyển khẩu đi khỏi gia đình thì ông đã thanh toán toàn bộ công sức cho bà L nhưng ông Đ không đưa ra được căn cứ chứng minh. Mặt khác, từ khi bà L về chung sống với ông Đ, bà đã cùng ông Đ chăm sóc anh H, anh Đ2, chị P từ lúc còn nhỏ. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chia cho bà L 50% giá trị tài sản và hiện nay bà L đang phải đi ở nhờ nhà chị gái, do đó đề nghị chia cho bà được hưởng phần giá trị tài sản bằng hiện vật. Cụ thể là giao cho bà L được sử dụng thửa đất số 09 và hưởng phần chênh lệch tài sản. Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét về ý chí của ông Đ khi làm đơn kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng như ý kiến của Ủy ban nhân dân thị xã T về trình tự thủ tục cấp giấp chứng nhận sử dụng đất là đúng quy định nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của ông Đ và anh Đ2. Ngoài ra, sau khi được cấp giấy ông Đ là người cất giữ nhưng không có ý kiến khiếu nại, thắc mắc gì, các con của ông Đ cũng không ai có ý kiến gì từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các thửa đất đến khi khởi kiện vụ án này.
Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn nhất trí, không có ý kiến bổ sung.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bà L và ông Đ không phải là vợ chồng, bà L và ông Đ sống chung với nhau từ ngày 15/12/1993 âm lịch, không có đăng kí kết hôn. Căn cứ vào Nghị quyết số 35/2000 ngày 09/6/2000 của Quốc hội, do bà L và ông Đ không phải là vợ chồng nên thửa đất số 29 không thuộc quyền sử dụng của bà L; thửa đất này là của bà H1 (vợ trước ông Đ) và ông Đ; bà H1 chết vào năm 1990 có 50% khối tài sản là diện tích đất bà H1 được hưởng, việc ông Đ tự đi kê khai không được sự đồng ý của những người thừa kế của bà H1 là không đúng, bà H1 chết không có di chúc; trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận không có đăng ký kết hôn của ông Đ và bà L, không có sổ hộ khẩu nên không có căn cứ xác nhận quyền sử dụng đất của bà L như luật sư của nguyên đơn đưa ra. Đối với hai thửa đất ao do ông Đ có trước khi chung sống cùng với bà L nên bà L cũng không được hưởng giá trị quyền sử dụng 02 thửa đất ao. Việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn Đ là không đúng quy định của pháp luật. Đối với tài sản xây dựng trên thửa đất số 13 thì cấp sơ thẩm chia cho bà L là không có căn cứ, tài sản này có công sức đóng góp của anh Đ2 và anh H. Quá trình giải quyết vụ án anh Đ2 có yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bản án sơ thẩm không đề cập xử lý là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số 51/2023 ngày 18/12/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Thuận Thành.
Ông Đ không có ý kiến bổ sung.
Anh Đ2 và anh H không tranh luận.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đối đáp cho rằng năm 1998 mới xác nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ và bà L, trong khi bố mẹ ông Đ còn sống không có ý kiến gì. Thời điểm bà H1 chết thì chưa có và chưa hình thành di sản để chia thừa kế nên không có căn cứ để đưa mẹ bà H1 tham gia tố tụng; đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận thì bản án sơ thẩm đã nhận định nên đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị hủy bản án sơ thẩm là không phù hợp.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đối đáp cho rằng mẹ của bà H1 là cụ T vẫn còn sống nhưng không đưa vào tham gia tố tụng và giữ nguyên quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đ2. Giao cho bà L được quyền sử dụng thửa đất số 9, tờ bản đồ số 11, diện tích 365m² tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Giao cho ông Đ được quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 11, diện tích 240m² và thửa đất số 29, tờ bản đồ số 11, diện tích 312m² cùng 01 ngôi nhà 02 tầng được xây dựng trên thửa đất số 13, tờ bản đồ số 11 đều có địa chỉ tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Ông Đ phải trích trả cho bà L giá trị chệnh lệch về tài sản theo quy định.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ, anh Nguyễn Văn Đ2, bà Lưu Thị L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là bà Lưu Thị L, bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn Đ2; sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ các khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 235; Điều 244; Điều 264; Điều 266; Điều 267; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sư; các Điều 9; Điều 14; Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Bộ tư pháp; các Điều 210, Điều 213, Điều 219 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết sô: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà Lưu Thị L và ông Nguyễn Văn Đ.
-
Về tài sản chung:
- Giao cho bà Lưu Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 09, tờ bản đồ số 11, diện tích 365m² có địa chỉ tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Giao cho ông Nguyễn Văn Đ được quyền sử dụng thửa đất số 13, tờ bản đồ số 11, diện tích 240m² và thửa đất số 29, tờ bản đồ số 11, diện tích 312m² cùng toàn bộ tài sản, công trình trên đất có địa chỉ tại khu phố N, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.
- Xác nhận bà Lưu Thị L có quyền sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp 504m², trong đó diện tích đất nông nghiệp tại xứ đồng Miễu là 288m² và diện tích đất nông nghiệp tại xứ đồng Mới là 216m².
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền trên đất theo quy định của pháp luật sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ.
- Ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trích trả cho bà Lưu Thị L số tiền chênh lệch về giá trị tài sản mà bà L được hưởng là 578.485.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là bà Lưu Thị L về việc buộc ông Nguyễn Văn Đ phải trả số tiền 10.500.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn V về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ và bà Lưu Thị L phải trả số tiền 500.000.000 đồng.
Các đương sự có quyền khởi kiện lại bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị L2.
Hoàn trả bà Lưu Thị L 21.600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo các Biên lai thu số 0005379 ngày 08/12/2021 và số 0005580 ngày 09/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành (nay là thị xã T), tỉnh Bắc Ninh.
Anh Nguyễn Văn Đ2 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả anh Nguyễn Văn Đ2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003226 ngày 02/01/2024 và 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006127 ngày 22/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận Thành.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tính |
Bản án số 22/2024/HNGĐ-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 22/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
