Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHIÊM HÓA

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 22/2024/HS-ST

Ngày 23-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quốc Văn Tài;

2. Ông Lý Văn Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Văn Quyết- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Duy Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chiêm Hóa, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lường Quang Đ, sinh ngày 23/01/1986, tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn;

Nơi cư trú: Thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; bố đẻ: Lường Văn S, sinh năm 1959; mẹ đẻ: Mai Thị S1, sinh năm 1958; có vợ là Lê Thị H, sinh năm 1991 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2022;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Ngày 25/8/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 38/2009/HSST), đã chấp hành xong;
  • - Ngày 07/01/2011 bị Toà án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 02/2011/HSST), đã chấp hành xong;
  • - Ngày 27/6/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 8 năm tù về tội Vận chuyển trái phéo chất ma túy, phạt bổ sung 5.000.000 đồng (Bản án số 25/2014/HSST) chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/7/2020 và đã nộp xong tiền phạt;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

2. Triệu Văn Đ1, sinh ngày 07/8/1984, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; bố đẻ: Triệu Văn K (đã chết); mẹ đẻ: Chu Thị T, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 24/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 08 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số: 02/2011/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/01/2013;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

3. Bàn Văn T1, sinh ngày 01/5/1977, tại huyện C, tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; bố đẻ: Bàn Văn D (Đã chết); mẹ đẻ: Chu Thị T2 (Đã chết); có vợ: Triệu Thị Y (Đã ly hôn); con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2001;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 20/7/2023 bị UBND xã K, C, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, phạt tiền 1.000.000₫ (QĐ số 101/QĐ-XPHC), chưa nộp phạt;

Nhân thân: Ngày 05/11/2020 bị Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, phạt tiền 1.500.000₫ (QĐ số 97/QĐ-XPHC) đã nộp xong tiền phạt ngày 09/12/2020;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Bàn Văn T3, sinh ngày 11/10/1970. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 15/01/2024, Triệu Văn Đ1, sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã K, huyện C điều khiển xe mô tô biển số 22F1-80793 (xe mượn của Bàn Văn T3, sinh năm 1970, trú tại thôn N, xã K, huyện C) để đi chơi thì gặp Bàn Văn T1, sinh năm 1977, trú tại thôn K, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang. Đ1 rủ T1 đi sang xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua Heroine về sử dụng (Đ1 góp 200.000đ, T1 góp 100.000₫), T1 đồng ý.

Khi cả hai đến khu vực thôn Bản Vèn, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì Đ1 xuống xe, một mình cầm theo số tiền 300.000₫ đi bộ vào nhà Lường Quang Đ2, sinh năm 1986, trú tại thôn B, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để hỏi mua H1 (T1 ngồi ở xe cách nhà Đ2 khoảng 300 mét chờ). Khi đến cổng nhà Đ1 gặp Đ2 và hỏi “Có hàng không” ý Đ1 hỏi Đ2 có Heroine bán không, Đ2 trả lời “Có, lấy bao nhiêu”. Thấy vậy Đ1 đưa cho Đ2 số tiền 100.000đ, Đ2 cầm tiền rồi đưa cho Đ1 01 gói nhỏ Heroine dạng bột vón cục màu trắng (có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy bạc màu vàng, lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày). Mua được Heroine Đ3 quay lại chỗ T1 chờ, sau đó cả hai tìm chỗ vắng người để cùng sử dụng hết bằng cách tiêm chích vào cơ thể, còn mảnh giấy bạc màu vàng T cất vào túi quần bên trái đang mặc. Khoảng 15 phút sau Đ3 đưa cho T1 số tiền 200.000đ để tiếp tục mua Heroine để sử dụng, T1 cầm tiền rồi một mình đi bộ ra phía sau nhà Đ2 và gọi Đ2 ra gặp (Đ3 ngồi ở xe cách nhà Đ2 khoảng 200 mét chờ). Khi gặp Đ2, T1 không nói gì mà đưa cho Đ2 số tiền 200.000đ, Đ2 cầm tiền và hiểu ý đó là số tiền T1 mua ma túy nên đã đưa cho T1 01 gói nhỏ Heroine dạng bột vón cục màu trắng (có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy bạc màu vàng, lúc này khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày). Mua được Heroine T1 quay lại chỗ Đ3 chờ, rồi T1 lấy mảnh giấy bạc màu vàng cất trong túi quần, gói bên ngoài gói Heroine T4 vừa mua được rồi cầm ở tay phải. Khi cả hai đến khu vực thôn N, xã K, huyện C thì gặp tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đang làm nhiệm vụ nghi ngờ Đ3, T4 có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, huyện C để kiểm tra (lúc này khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày). Quá trình làm việc T4 tự giác giao nộp gói Heroine có đặc điểm nêu trên và khai nhận đã mua được H1 từ L Đ mục đích để sử dụng, tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 16/01/2024, tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của L Đoàn không phát hiện thu giữ gì. Đối với nguồn gốc số H1 đã bán cho Đ3, T4, Lường Quang Đ4 khai nhận: Khoảng 10 giờ, ngày 13/01/2024 Đ4 mua được 01 gói nhỏ Heroine (có đặc điểm bên ngoài được gói bằng nilong màu đen) của một người đàn ông không quen biết tự giới thiệu tên là T5 tại khu vực cổng phía sau bến xe khách thành phố T, tỉnh Thái Nguyên với giá 200.000 đồng. Mua được H1, Đ4 về nhà lấy gói Heroine mua được chia thành 02 gói nhỏ đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng giấy bạc màu vàng. Đến ngày 15/01/2024 Đ4 bán 02 gói ma túy có đặc điểm nêu trên cho Đ3, T4. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành lập biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Quang Đ4 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Tại các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đối với Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1, kết quả (+) dương tính với chất ma túy; Lường Quang Đ, kết quả (-) âm tính với chất ma túy.Kết luận giám định số: 178/KL-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (Hêrôin); khối lượng 0,254g (Không phẩy hai trăm năm mươi bốn gam).

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSCH, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lường Q Đoàn về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; các bị cáo Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lường Quang Đ4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lường Quang Đ từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024. - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Triệu Văn Đ1 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024.

Xử phạt bị cáo Bàn Văn T1 từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024.

Phạt tiền bị cáo Lường Quang Đ từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1.- Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy số Heroine đã thu giữ của các bị cáo Triệu Văn Đ1 và Bàn Văn T1;

Trả lại cho ông Bàn Văn T3 01 xe mô tô biển số 22F1 – 08793.

Truy thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền của bị cáo Lường Quang Đ phạm tội mà có là 300.000 đồng.

- Áp dụng các Điều 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì; các bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ông Bàn Văn T3 xác định xe mô tô mang biển số 22F1 – 08793, đăng ký xe mang tên Bàn Văn T3 là của ông, chiều ngày 15/01/2024 Triệu Văn Đ1 mượn của ông để đi về nhà, ông không biết Đ1 sử dụng vào việc đi mua ma tuý, ông đề nghị trả lại cho ông chiếc xe mô tô trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, kết luận giám định, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

  • - Trong ngày 15/01/2024, bị cáo Lường Quang Đ4 đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy 02 lần, cụ thể:
    • + Lần 1: Khoảng 17 giờ 00 phút, tại cổng nhà ở của mình thuộc thôn Bản Vèn, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Lường Quang Đ4 đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho bị cáo Triệu Văn Đ1 với số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
    • + Lần 2: Khoảng 17 giờ 30 phút, tại khu vực sau nhà ở của mình thuộc thôn Bản Vèn, xã L, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Lường Quang Đ4 đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho bị cáo Bàn Văn T1 với số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

- Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, tại khu vực thôn N, xã K, huyện C, tỉnh Tuyên Quang, các bị cáo Triệu Văn Đ1 và Bàn Văn T1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,254g (Không phẩy hai trăm năm mươi bốn gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo Lường Quang Đ4 đã thực hiện hành vi mua ma túy, sau đó bán 01 gói ma tuý loại Heroine cho bị cáo Triệu Văn Đ1 với số tiền 100.000 đồng và bán 01 gói ma tuý loại Heroine cho bị cáo Bàn Văn T1 với số tiền 200.000 đồng, hành vi của bị cáo Đ4 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Triệu Văn Đ1 và Bàn Văn T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,254 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng, hành vi của các bị cáo Đ1 và T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện CH, tỉnh Tuyên Quang truy tố các bị cáo về tội phạm nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại đoạn 1 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về mức hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo Lường Quang Đ4, Triệu Văn Đ1 và Bàn Văn T1 đều có nhân thân xấu, có tiền sự. Bị cáo Lường Quang Đ4 đã 02 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2009 và năm 2011, 01 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” vào năm 2014; bị cáo Triệu Văn Đ1 đã 01 lần bị Tòa án kết án phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2011; bị cáo Bàn Văn T1, ngày 05/11/2020 bị Công an huyện C, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 20/7/2023 bị UBND xã K, huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt tù nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà các bị cáo mua bán, tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Hành vi tàng trữ trái pháp chất ma tuý của bị cáo Đ1 và bị cáo T1 nhằm mục đích sử dụng, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Đ1 và bị cáo T1. Đối với hành vi bán trái phép chất ma tuý của bị cáo Đ4 nhằm mục đích kiếm lời, nên cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo Đ4.

[6]. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Khối lượng Heroine thu giữ của bị cáo Đ1 và T1, Nhà nước cấm lưu hành sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng do bị cáo Đ4 bán ma túy trái phép mà có, bị cáo đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, nên cần truy thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô biển số 22F1 – 08793, đăng ký xe mang tên Bàn Văn T3, bị cáo Đức mượn của ông T3 để sử dụng vào việc đi mua ma tuý, tuy nhiên ông Bàn Văn T3 không biết bị cáo Đ1 sử dụng xe mô tô của mình đi mua ma tuý, nên trả lại cho ông T3.

[7]. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền.

Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho bị cáo Lường Quang Đ4, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ, nên không có căn cứ xử lý trong vụ án.

[8]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9]. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lường Quang Đ4. Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Triệu Văn Đ1 và Bàn Văn T1. Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Quang Đ4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • - Xử phạt bị cáo Lường Quang Đ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024. Phạt tiền bị cáo Lường Quan Đ 5.000.000đ (Năm triệu đồng), sung vào ngân sách Nhà nước.- Xử phạt bị cáo Triệu Văn Đ1 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024- Xử phạt bị cáo Bàn Văn T1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 16/01/2024.

3. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong còn nguyên vẹn, có chữ ký xác nhận của Triệu Văn Đ1, điểm chỉ ngón trỏ phải của Bàn Văn T1, thành phần tham gia và đóng 05 hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1, giám định ngày 16/01/2024.

- Trả lại cho ông Bàn Văn T3 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại 110BS, số máy VDEJQ152FMHB153057, số khung RPEXCH8PECA153057, biển số 22F1 - 08793, xe cũ đã qua sử dụng.

Tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa, lập ngày 20/5/2024.

- Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền của bị cáo Lường Quang Đ phạm tội mà có là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

4. Về án phí: Các bị cáo Lường Quang Đ4, Triệu Văn Đ1, Bàn Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Chiêm Hóa;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Chiêm Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Chiêm Hóa;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Hồ sơ vụ án hình sự;
  • - Lưu HS.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mạnh Tuấn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Ma Thanh Tùng

Tưởng Thị Thu

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mạnh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Quang Đoàn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger