Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 22/2023/HS- ST

Ngày: 22/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh - Ông Giàng A Vư
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Thổ
  • - Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Hữu - Kiểm sát viên

Ngày 22/11/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2023/TLST - HS, ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST - HS ngày 10/11/2023 đối với bị cáo:

Lù Thị D (tên gọi khác: không), sinh năm: 1984; nơi sinh: huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Nơi ĐKHKTT: Bản Chảng Phàng, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: nữ; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ ông Lù A Khua sinh năm: 1963 và mẹ đẻ bà Hảng Thị Tre, sinh năm 1964; bị cáo có chồng Sùng A Dũng sinh năm: 1983 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm: 2004, con nhỏ nhất sinh năm: 2007; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Phong Thổ cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/7/2023, Lù Thị D đi bộ đến nhà Tẩn Tả Mẩy tại khu Hoàng Trù Văn thuộc bản Chảng Phàng, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine. Khi đi đến nhà Mẩy thì thấy vợ chồng Mẩy đang ăn cơm ở dưới bếp nên D ăn cơm cùng, sau khi ăn cơm xong, Mẩy và D đi lên nhà còn chồng Mẩy anh Chẻo Vần Hin vẫn ở dưới bếp ăn cơm. Tại nhà của Mẩy, D đã hỏi mua 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng, mục đích mua Heroine để sử dụng. Sau khi mua được Heroine, D mang ra bên ngoài cạnh tường nhà của Mẩy cấu một ít để sử dụng, quá trình sử dụng Heroine vợ chồng Mẩy không biết, số Heroine còn lại D cất giấu vào túi thổ cẩm và đeo trên người. Sau khi sử dụng xong Heroine D nhìn thấy Công an huyện Phong Thổ đến nhà Mẩy, D lo sợ nên bỏ chạy thì bị Công an huyện Phong Thổ kiểm tra hành chính và phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với D. Công an huyện Phong Thổ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Lù Thị D, thu giữ vật chứng vào hồi 22 giờ 20 phút ngày 11/7/2023. Cùng ngày Công an huyện Phong Thổ khám xét nhà Tẩn Tả Mẩy và tiến hành khám xét không phát hiện thu giữ gì. Quá trình làm việc và lấy lời khai đối với Mẩy, Mẩy khai không được bán Heroine cho Lù Thị D.

Ngày 12/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Thổ đã tiến hành mở niêm phong và cân tịnh 01 mẫu chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Lù Thị D có khối lượng 0,17 gam, đã lấy toàn bộ chất bột khô, màu trắng, vón cục gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 892/KL-KTHS ngày 14/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: “01 mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine”.

Vật chứng còn lại của vụ án là: 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi thổ cẩm và các vỏ phong bì cũ hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ.

Bản cáo trạng số: 102/CT - VKSPT ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo Lù Thị D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 - Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại Diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Đại Diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Thị D từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi thổ cẩm và các vỏ phong bì cũ. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm cũng không có ý kiến gì và nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với bản luận tội của đại Diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 11/7/2023, tại khu Hoàng Trù Văn thuộc bản Chảng Phàng, xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ. Lù Thị D bị Công an huyện Phong Thổ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ 01 gói ma túy. Kết quả giám định 01 gói chất bột màu trắng kết luận là ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,17 gam. Như vậy Lù Thị D phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,17 gam Heroine.

Xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy nên mục đích mua ma túy về sử dụng ngoài ra không có mục đích nào khác, khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,17 gam Heroine. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 điều 249 - Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được mọi hành vi liên quan đến ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa, nên nhận thức pháp luật còn có phần hạn chế. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên cũng cần phải có một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét về điều kiện kinh tế của bị cáo còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự

[7] Về vật chứng: 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi thổ cẩm và các vỏ phong bì cũ là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở khu vực đặc biệt khó khăn theo Quyết định số: 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc về phê duyệt thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, tại phiên tòa bị cáo đã đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm, nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị cáo khai mua của Tẩn Tả Mẩy, tuy nhiên lời khai của Mẩy không được bán cho D ngoài lời khai của D không có tài liệu chứng cứ khác để chứng minh cho hành vi phạm tội của Mẩy, nên không có căn cứ để điều tra xử lý. Đối với hành vi sử dụng ma túy của bị cáo ở bên cạnh tường nhà của gia đình chị Mẩy anh Hin, tuy nhiên vợ chồng chị Mẩy không biết nên loại trừ trách nhiệm hình sự đối với chị Mẩy và anh Hin.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lù Thị D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

1. Về hình phạt:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lù Thị D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn thi hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 12/7/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh nilon màu trắng, 01 túi thổ cẩm và các vỏ phong bì cũ.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ với Chi cục THADS huyện Phong Thổ).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh
  • - VKS tỉnh, huyện
  • - THA dân sự
  • - Cơ quan THAHS,CQĐT
  • - Bị cáo
  • - Sở Tư pháp
  • - Công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án.
  • - Lưu HS - TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 22/2023/HS- ST ngày 22/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 22/2023/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger